Thân của trời, người trong cõi Cực Lạc vốn sẵn thanh tịnh; đều là liên hoa hóa thân, chẳng cần phải dùng đến cơm ăn, nước uống để duy trì thân mạng, cũng chẳng cần tắm rửa để được sạch sẽ, nhưng tại sao kinh lại bảo có những chúng sanh tới tắm trong ao? Đó chẳng qua là trời, người cõi Cực Lạc thích hưởng thụ những thứ vui sướng của thường-lạc-ngã-tịnh nên thường tới tắm trong ao để gột rửa cấu nhiễm trong tâm mà thôi, chớ chẳng phải là để rửa sạch cái thân. Cảnh tướng này đã nêu rõ chánh pháp của Đại thừa là từ tâm khởi tu để quét sạch lậu hoặc trong tâm. Một khi những cấu nhiễm trong tâm đã được tiêu trừ thì tự nhiên tinh thần sảng khoái, thân thể an vui. Nước công đức rất nhiệm mầu vi diệu có thể gột sạch hết phiền não, trí huệ mở mang, chúng ta chỉ cần đến Cõi Cực Lạc, thường tắm gội trong ao bảy báu là được rồi; đấy mới đúng thật sự là vô công dụng đạo mà đạo nghiệp tự viên thành. Nước công đức ấy có thể gột sạch hết thảy kiến tư phiền não, trần-sa phiền não và vô minh phiền não, giúp chúng ta mau chóng chứng đắc Pháp thân, Bát-nhã, và Giải Thoát.
The body of heaven, the person in the realm of Bliss, is inherently pure; They are all lotus incarnations, and they don't need to use food and water to maintain their lives, nor do they need to take a bath to be clean, but why does the sutra say that there are sentient beings who come to bathe in the pond? It is nothing more than heaven, people in the Blissful realm like to enjoy the pleasures of ordinary happiness, so they often come to bathe in the pond only to wash away the defilements in the mind, not to wash the body. This scene clearly states that the Dharma of Mahayana is from the mind to cultivate to wipe out the defilements or in the mind. Once the defilements in the mind have been eliminated, the mind will naturally be refreshed, and the body will be happy. The water of merit is very mysterious and wonderful, it can wash away all the afflictions, and wisdom is open, we just need to go to the Blissful Realm, and often bathe in the pond of seven treasures; This is really the uselessness of the Tao, which the Taoism has formed itself. This water of merit can wash away all disturbing thoughts, disturbing emotions, and disturbing ignorance, and help us to quickly attain the Dharma-body, Prajna, and Liberation.
Chúng ta thấy đó, một khi vãng sanh Cực Lạc, việc tu hành thành Phật sẽ trở nên vô cùng dễ dàng, tuy nói là tu, nhưng thật chẳng có tu, chỉ cần vui chơi, tắm gội trong ao thất bảo, vô công dụng đạo mà đạo nghiệp lại mau chóng viên thành. Chẳng giống như trong thế gian này, chúng ta tu hành quá sức khổ sở, nhưng rốt cuộc rồi cũng bị hỏng bét, chẳng có được một tí thành tựu. Nói thật thì rất khó nghe, đa số chúng ta toàn là tu mù, luyện đui. Chúng ta hãy thử xem xét chính mình sẽ biết rõ nhất, chúng ta đã tu hành bao lâu rồi, nhưng có mấy ai trong chúng ta thành công? Chư cổ đức nói chẳng sai: “Người tu hành trong cõi này nhiều như trứng cá, kẻ thành tựu hiếm tợ vảy lân.” Thật vậy, chúng ta muốn tìm thấy người tu hành thành tựu đạo nghiệp trong cõi này còn khó hơn đi tìm vảy lân. Vì sao khó tìm thấy? Vì hầu hết chúng ta đều tu mù luyện đui nên chẳng có thành tựu thật sự. Do điều này, chúng ta phải biết tu hành trong cõi này chẳng dễ dàng! Thậm chí, dù chúng ta có thông đạt kinh luận, hiểu rõ đạo lý và phương pháp tu hành và cũng tu đúng như vậy chớ chẳng phải tu sai, nhưng vẫn rất khó thành tựu. Vì sao khó thành tựu? Vì một phẩm tập khí phiền não vẫn không đoạn được. Vọng tưởng, chấp trước không những chẳng giảm ít đi mà mỗi ngày còn tăng trưởng. Như vậy, việc tu học Phật pháp có tác dụng gì đâu? Do vậy, cổ nhân mới nói ra một câu buộc chúng ta phải suy nghĩ mà phải giật mình kinh sợ: “Địa ngục môn tiền, tăng đạo đa” (trước cửa địa ngục, tăng sĩ và đạo sĩ rất đông đúc).
We see, once one is born in Bliss, it will become extremely easy to cultivate as a Buddha, although it is said to be cultivation, but there is really no cultivation, just having fun, bathing in the pond is useless, but the karma is quickly completed. It's not like in this world, where we cultivate too hard, but in the end we get ruined and don't get any achievements. To be honest, it is very difficult to hear, most of us are blind cultivators and practicing swords. Let's try to examine ourselves to know best, how long have we been cultivating, but how many of us have succeeded? The ancient virtues were not wrong: "Cultivators in this realm are as many as fish eggs, and those who achieve rare achievements are lion scales." In fact, it is even more difficult to find cultivators who have achieved karma in this realm than it is to find lion scales. Why is it so hard to find? Since most of us cultivate blindly, there is no real achievement. Because of this, we must know that cultivating in this realm is not easy! Even if we understand the sutras, understand the doctrines and methods of cultivation, and cultivate correctly, not wrongly, it is still very difficult to achieve. Why is it difficult to achieve? Because a disturbing habit cannot be stopped. Delusions and attachments not only do not decrease, but they also grow every day. So, what is the use of studying the Dharma? Therefore, the ancients said a sentence that forces us to think and be startled and frightened: "Hell the money gate, the monks and Taoists are very crowded" (in front of the gate of hell, monks and Taoists are very crowded).
Từ những truyện ký trong Phật giáo, chúng ta thấy, tại chùa Quốc Thanh ở núi Thiên Thai có ba vị tăng sĩ: Hàn Sơn, Thập Đắc, và Phong Can, chuyên làm tạp vụ trong chùa Quốc Thanh, không ai coi trọng họ. Hàn Sơn và Thập Đắc làm việc nặng nhọc, chẻ củi đốt lò trong nhà bếp, Hòa thượng Phong Can thì giã gạo nấu cơm. Thuở ấy, có một vị Thứ Sử họ Lư (tương đương với chức Thị Trưởng hiện thời) đang đi trên đường đến núi Thiên Thai để nhậm chức, bổng dưng ngã bệnh. Ông ta bị bệnh rất khổ, tìm rất nhiều thầy lang nhưng chẳng có cách nào chữa khỏi. Lúc ấy, bổng dưng có một người xuất gia, ăn mặc rách nát, tả tơi, đến muốn gặp Thứ Sử đai nhân, nhưng bị người nhà ngăn cản. Vị xuất gia ấy chính là Ngài Phong Can. Sư nói: “Ông ta bị bệnh, tôi đến chữa bệnh cho ông.” Người nhà nghe vậy, mới lập tức mời Sư vào; thế là Sư chữa khỏi bệnh cho ông quan Thứ Sử họ Lư kia. Vị Thứ Sử lành bệnh rồi, bèn hỏi Sư: “Pháp sư từ đâu đến?” Sư trả lời: “Tôi từ núi Thiên Thai đến.” Thứ Sử nói: “Đúng là nơi tôi sẽ đến.” Ông ta lại hỏi: “Xin hỏi trên núi có cao Tăng Đại đức hay không?” Sư đáp: “Có chứ! Có hai vị đại Bồ-tát Văn Thù và Phổ Hiền đang ở nơi ấy.” Thứ Sử hỏi: “Tôi tìm họ bằng cách nào?” Sư bảo: “Ông hãy tìm Hàn Sơn và Thập Đắc là được!” Năm ngày sau khi đến trấn nhậm chức, quan Thứ Sử lên núi để bái phỏng hai vị cao tăng ấy. Sau khi hỏi dò trong chùa thì ra Hàn Sơn và Thập Đắc chỉ là hai vị Hòa thượng điên điên khùng khùng chuyên chẻ củi nhóm lò. Ông ta chẳng màng giải thích lôi thôi, vội vã đến nhà bếp, gặp họ liền quỳ sụp đảnh lễ. Hai người dở điên dở khùng ấy cũng chẳng quan tâm tới ông ta, liền hỏi: “Ngài lạy tôi để làm chi?” Lúc ấy, ông quan Thử Sử lại nghe từ miệng của Hàn Sơn và Thập Đắc mà biết được Phong Can chính là A Di Đà Phật tái lai. Nói xong, hai vị Hòa thượng liền biến mất, từ đó chẳng ai tìm ra hai vị Hòa thượng khùng khùng điên điên này nữa, mà ngay cả vị Hòa thượng Phong Can kia cũng biến mất luôn từ đó.
From the stories in Buddhism, we see that at Quoc Thanh Pagoda in Thien Thai Mountain, there are three monks: Han Son, Shi Dac, and Phong Can, who specialize in doing housekeeping in Quoc Thanh Pagoda, no one takes them seriously. Han Son and Shi Dak worked hard, splitting wood to burn the stove in the kitchen, and Venerable Phong Can pounding rice to cook rice. At that time, there was a Deputy Historian surnamed Lu (equivalent to the current Mayor) who was on his way to Thien Thai Mountain to take office, and suddenly fell ill. He was very sick, and he looked for many healers, but there was no way to cure him. At that time, suddenly a monk, dressed in tattered and tattered clothes, came to see the Deputy Historian, but was stopped by his family. That monk was Venerable Feng Can. The monk said, "He is sick, I have come to treat him." When the family heard this, they immediately invited the monk in; so the Master cured the illness of the Deputy Historian surnamed Lu. The Deputy Historian was cured, so he asked the Master, "Where did the magician come from?" The monk replied, "I came from Tiantai Mountain." The Second Shi said, "That's exactly where I'm going." He asked again, "May I ask if there is a high monk on the mountain?" The monk replied, "Yes! There are two great bodhisattvas Wenju and Pu Xian in that place." The Second Su asked, "How do I find them?" The monk said, "You can find Han Shan and Shi Dao!" Five days after coming to the town to take office, the Deputy Historical Officer went to the mountain to worship the two high monks. After inquiring in the temple, it turned out that Han Son and Shi Dak were just two crazy and crazy monks who specialized in splitting firewood in the furnace. He didn't bother to explain, hurried to the kitchen, and when he saw them, he knelt down and bowed. The two crazy people didn't care about him either, and asked, "What are you doing with me?" At that time, the official of the Trial History heard from the mouths of Han Son and Shi Dak and learned that Feng Can was the reincarnated Amitabha Buddha. After speaking, the two monks disappeared, and no one found these two crazy monks anymore, and even the other Venerable Feng Can disappeared from there.
Phật, Bồ-tát thường hiện thân làm việc nặng nhọc trong đạo tràng để hầu hạ người khác. Điều này được ghi trong Sơn Chí của Thiên Thai Sơn. Thuở đó, trên núi có một khu vườn phóng sanh, chuyên dành cho người ta phóng sanh. Trong vườn phóng sanh có nuôi một bầy ngỗng, Hàn Sơn và Thập Đắc thường đến cho chúng ăn. Ngài gọi ngỗng bằng tên của những người xuất gia đã khuất trước kia trong chùa Quốc Thanh. Họ gọi tên con nào, con đó bèn chạy tới; vì thế cổ nhân mới có câu: “Trước cửa địa ngục, tăng sĩ và đạo sĩ rất đông đúc.” Vì thế, chúng ta tu hành thật sự thì phải biết sửa chữa hết mọi vọng tưởng, tật xấu, phiền não, tập khí của chính mình, nếu không thì hậu quả sẽ giống như bầy ngỗng trong chùa Quốc Thanh mà thôi! Tu hành nghĩa là sửa đổi, uốn nắn những hành vi sai quấy nơi thân, miệng, ý của chính mình, chớ chẳng phải đi tìm lỗi của người khác để sửa chữa giùm cho họ. Dẫu chúng ta niệm kinh, niệm Phật, lạy Phật nhiều đến mấy, nhưng nếu hành vi nơi tam nghiệp thân, miệng, ý của mình vẫn y hệt như cũ thì chẳng có chút hữu dụng nào cả! Kết quả cũng chỉ là giống như bầy ngỗng trong chùa Quốc Thanh, vẫn bị đọa lạc. Chúng ta tu hành như vậy cũng chỉ là để các Ngài Hàn Sơn, Thập Đắc và Phong Can chê cười mà thôi. Các Ngài cười cách tu hành của chúng ta là: “Miệng có, tâm không, gào toác cổ họng vẫn uổng công.”
Buddhas and Bodhisattvas often incarnate and work hard in the ashram to serve others. This is recorded in the Son Chi of Thien Thai Son. At that time, there was a release garden on the mountain, specializing in people to release births. In the release garden, there is a flock of geese, Han Son and Shi Dac often come to feed them. He called the geese by the names of the deceased monks in Quoc Thanh Pagoda. Whoever they called the name of the child ran to him; That's why the ancients had a saying: "In front of the gates of hell, monks and Taoists are very crowded." Therefore, when we truly practice, we must know how to correct all our own delusions, bad habits, afflictions, and habits, otherwise the consequences will be like the geese in Quoc Thanh Pagoda! Cultivation means correcting and correcting wrong behaviors in one's own body, mouth, and mind, not looking for other people's faults to correct them for them. No matter how much we recite the sutras, recite the Buddha, and bow to the Buddha, if the behavior in the three karmas of our body, mouth, and mind is still the same, it is not useful at all! The result is just like the geese in Quoc Thanh Pagoda, still lost. We practice like this just for the sake of Han Shan, Shi Dak, and Feng Can to ridicule us. They laugh at our way of practicing: "The mouth is empty, the mind is empty, and it is still useless to scream at the throat."
Mê là chẳng biết lỗi lầm của chính mình! Ngay cả lỗi lầm của chính mình cũng không thấy, không biết thì vĩnh viễn chẳng thể sửa đổi. Trong Phật môn, giác ngộ chính là thấy rất rõ ràng từng mỗi sai lầm của chính mình. Nhà Phật bảo: “Ngộ hậu khởi tu” có nghĩa là sau khi đã ngộ rồi, tức thấy rõ mọi lỗi lầm của chính mình rồi, mới có thể tu sửa được. Nếu chúng ta chưa thấy hết lỗi lầm của mình mà cứ tu thì cổ đức gọi đó là “tu mù, luyện đui.” Thật vậy, chúng ta thử suy nghĩ xem, nếu chúng ta chưa thấy được sự sai lầm của mình mà cứ tu thì là tu cái gì? sửa cái gì? luyện cái gì? Đích xác là tu mù, luyện đui!
Ignorance is not knowing one's own faults! Even my own mistakes are not seen, and if I don't know, I can't be corrected forever. In Buddhism, enlightenment is seeing very clearly each of our own mistakes. The Buddhist saying: "Cultivation after enlightenment" means that after enlightenment, that is, you can clearly see all your own mistakes, and then you can repair them. If we have not seen all our mistakes and continue to practice, the ancient virtues call it "blind cultivation, training." In fact, let's think about it, if we haven't seen our mistakes and keep practicing, what are we cultivating? fix what? Practice what? Exactly blind cultivation, cultivation!
Trong kinh Vô Lượng Thọ, Phật dạy: “Trai gái sang hèn, bà con bạn bè, thay nhau dạy bảo, cùng nhau kiểm thảo, nghĩa lý thuận hòa, vui vẻ hiếu hiền. Chỗ làm nếu phạm, phải tự hối lỗi, bỏ ác làm thiện, sáng nghe chiều sửa, phụng kinh trì giới, cũng giống như kẻ nghèo đặng của báu, chuyển trước sửa sau, tẩy sạch tâm nhơ, cải sửa hành vi, tự nhiên cảm nhận, nguyện ước thành đạt.” Từ nơi lời dạy này của Phật, chúng ta thấy hai điều trọng yếu của việc đọc kinh: Điều thứ nhất, đọc kinh là tu Giới, Định, Huệ. Chúng ta đọc kinh một giờ là tu Giới, Định, Huệ trong một giờ. Chúng ta đọc kinh suốt một ngày là tu Giới, Định, Huệ suốt một ngày. Điều thứ hai, đọc kinh là kiểm điểm lỗi lầm của chính mình, nếu chính mình chẳng biết lỗi lầm của mình mà cũng chẳng có ai đến bảo cho mình biết lỗi lầm của mình, thì biết đâu mà tìm? Kinh chỉ cho chúng ta thấy lỗi lầm của chính mình và dạy chúng ta phương pháp sửa đổi lỗi lẩm, chuyển mê thành ngộ, chuyển phiền não thành Bồ-đề.
In the Sutra of Immeasurable Life, the Buddha taught: "Boys and girls are lowly, relatives and friends, take turns teaching, examining together, harmonious, happy and gentle. If you commit a crime, you must repent of yourself, abandon evil and do good, listen to the afternoon in the morning, and worship the precepts, just like a poor person who has treasures, moves first and corrects later, cleanses the unclean mind, corrects behavior, naturally feels and wishes for success." From this teaching of the Buddha, we see two important things about reading the sutras: First, reciting the sutras is the cultivation of precepts, concentration, and wisdom. We recite the sutras for one hour and cultivate the precepts, concentration, and wisdom in one hour. We recite the sutras all day long, and we cultivate the precepts, concentration, and wisdom for a whole day. The second thing is to recite the sutras is to examine our own mistakes, if we ourselves don't know our mistakes and no one comes to tell us our mistakes, then where can we find them? The sutra shows us our own faults and teaches us how to correct our mistakes, transform delusions into enlightenment, and transform disturbing emotions into bodhicitta.
Cổ nhân Đại đức dạy, hễ có người chỉ ra khuyết điểm của chúng ta thì phải nên dập dầu đảnh lễ cảm tạ họ! Thời xưa, có ba hạng người chịu kể ra lỗi lầm của chúng ta, đó là cha mẹ, thầy dạy và bạn thân. Ngày nay, cha mẹ, thầy dạy và bạn bè dù biết lỗi lẫm của chúng ta cũng chẳng dám nói ra, vì sao? Vì khi họ nói ra lỗi lầm ấy, chúng ta nhất định sẽ đùng đùng nổi sân, đấu đá với họ một phen cho đã giận. Hiện nay, không ai tự mình muốn nói ra lỗi lầm của chính mình và cũng không bằng lòng lắng nghe người khác kể ra lỗi lầm của mình. Nếu chúng ta không tìm thấy lỗi lầm của chính mình, người khác cũng chẳng thèm nói ra lỗi của mình, thì phải biết đi tìm lỗi lầm ở đâu? Phật dạy phải đọc kinh! Mục đích của đọc kinh là để kiểm nghiệm lỗi lầm của chính mình. Khi chúng ta thấy rõ hết thảy lỗi lầm của chính mình, một thứ cũng không sót, thì đó là gọi là triệt khai, triệt ngộ. Do vậy, lúc đọc kinh, nghe giảng kinh chính là lúc mình đang tìm thấy lỗi lầm của chính mình để sửa chữa. Nếu chúng ta thật sự tu hành đúng như vậy, nhất định sẽ tự nhiên cảm nhận sự nhiếp thọ của Phật mà nguyện ước được thành đạt. Thành đạt cái gì? Chúng ta nguyện vãng sanh thì nhất định được vãng sanh, chúng ta nguyện thành Phật thì nhất định sẽ thành Phật. Đó chính là nguyện ước chân chánh nhất mà tất cả chư Phật đều mong mõi nghe thấy từ nơi chúng ta, để các Ngài có thể tùy thuận theo nhân duyên đó mà gia hộ chúng ta.
The Ancient Venerable taught that whenever someone points out our shortcomings, we should stamp the oil and thank them! In ancient times, there were three types of people who were willing to tell us our mistakes: parents, teachers, and close friends. Nowadays, parents, teachers, and friends don't dare to say it, even if they know our mistakes, why? Because when they say that mistake, we will definitely get angry and fight with them for a while until we get angry. Currently, no one wants to talk about their own mistakes and is not content to listen to others tell them about their mistakes. If we don't find our own faults, and others don't bother to tell us about our mistakes, then where should we look for them? Buddha taught to read sutras! The purpose of reciting the sutras is to test one's own mistakes. When we see clearly all our own faults, not a single thing is missing, that is called eradication, enlightenment. Therefore, when reading the sutras and listening to the sutras, we are finding our own mistakes to correct. If we really practice in this way, we will naturally feel the Buddha's reincarnation and wish to be fulfilled. What has been achieved? If we wish to be reborn, we will definitely be reborn, and if we wish to become Buddhas, we will definitely become Buddhas. That is the most sincere wish that all Buddhas wish to hear from us, so that they can bless us according to those causes and conditions.
Phật bảo tu hành chân thật chính là “sáng nghe, chiều sửa.” Sửa đổi phải là sau đấy chẳng còn làm nữa. Hôm nay ta sửa đổi, ngày mai vẫn làm như cũ thì chẳng có tác dụng gì hết! Điều quan trọng trong sửa lỗi là sau này chẳng tái phạm. Trong Phật môn, chúng ta sám hối, tinh thần sám hối thật sự là sau này chẳng còn tái phạm, buổi sáng vừa sám hối xong thì đến chiều là đã sửa xong lỗi lầm, đấy mới là chân sám hối. Nếu ngay sau khi sám hối xong mà vẫn còn phạm lỗi lầm giống hệt như củ thì Phật, Bồ-tát chẳng thể nào chấp nhận lời sám hối giả dối ấy! Đọc kinh, niệm Phật, lạy Phật sám hối cũng chỉ là uổng công. Chúng ta phạm lỗi lầm chỉ có một lần thôi, nếu biết được đó là lỗi lầm, nhất quyết chẳng thể có lần thứ hai, đó mới là thật sự tu hành. Người tu hành như vậy thì sợ gì niệm Phật chẳng thể tiêu trừ nghiệp chướng, sợ gì chẳng thể vãng sanh. Người khác phạm lỗi lầm như thế nào, người khác tu hành thật hay giả chẳng dính dáng gì tới mình, chẳng ăn nhằm gì đến mình! Điều khẩn yếu là chính mình hãy tự vấn bản thân, rốt cuộc ta đang tu chân thật hay đang tu giả dối? Điều này mới có quan hệ lớn đối với tương lai của mình, tất cả những điều khác chẳng có quan hệ gì với việc tu hành của mình cả. Ngay cả niệm kinh, niệm Phật cũng vậy, nếu niệm kinh mà chẳng phản tỉnh được lỗi lầm, nếu niệm Phật mà chẳng sửa đổi được lỗi lầm, thì công phu tu hành ấy chẳng có đắc lực, chẳng có lợi ích thật sự. Như vậy, việc niệm kinh, niệm Phật cũng chẳng có quan hệ gì với việc tu hành cả!
The Buddha said that true cultivation is "morning listening, afternoon correction." The amendment must be that it is no longer done after that. If I amend it today, tomorrow it will be the same, it won't have any effect! The important thing in correcting mistakes is not to reoffend in the future. In Buddhism, we repent, the spirit of repentance is really that there will be no recurrence in the future, and when we finish repentance in the morning, we have corrected our mistakes in the afternoon, and that is the true repentance. If immediately after repentance is completed, they still make the same mistakes, then Buddhas and Bodhisattvas cannot accept such false repentance! Reading sutras, reciting the Buddha, and bowing to the Buddha to repent is also just a waste of effort. We make a mistake only once, if we know it's a mistake, we can't have a second time, that's really cultivation. People who practice like this are afraid that chanting the Buddha will not be able to eliminate karma, and that they will not be able to be reborn. How others make mistakes, whether others practice real or false, has nothing to do with us, and doesn't eat anything for us! The urgent thing is to ask yourself, are we cultivating truthfully or falsely in the end? This has a big bearing on our future, and everything else has nothing to do with our practice. Even the recitation of the sutras and the recitation of the Buddha, if the recitation of the sutra does not reflect on the mistakes, if the recitation of the Buddha does not correct the mistakes, then the elaborate practice of cultivation is not effective and has no real benefit. Thus, the recitation of the sutras and the recitation of the Buddha has nothing to do with cultivation!