Mỗi ngày, hãy mang đến niềm vui cho ít nhất một người. Nếu không thể làm một điều tốt đẹp, hãy nói một lời tử tế. Nếu không nói được một lời tử tế, hãy nghĩ đến một việc tốt lành. (Try to make at least one person happy every day. If you cannot do a kind deed, speak a kind word. If you cannot speak a kind word, think a kind thought.)Lawrence G. Lovasik

Thành công là tìm được sự hài lòng trong việc cho đi nhiều hơn những gì bạn nhận được. (Success is finding satisfaction in giving a little more than you take.)Christopher Reeve
Thước đo giá trị con người chúng ta là những gì ta làm được bằng vào chính những gì ta sẵn có. (The measure of who we are is what we do with what we have.)Vince Lombardi
Đừng làm một tù nhân của quá khứ, hãy trở thành người kiến tạo tương lai. (Stop being a prisoner of your past. Become the architect of your future. )Robin Sharma
Quy luật của cuộc sống là luôn thay đổi. Những ai chỉ mãi nhìn về quá khứ hay bám víu vào hiện tại chắc chắn sẽ bỏ lỡ tương lai. (Change is the law of life. And those who look only to the past or present are certain to miss the future.)John F. Kennedy
Chỉ có cuộc sống vì người khác mới là đáng sống. (Only a life lived for others is a life worthwhile. )Albert Einstein
Như cái muỗng không thể nếm được vị của thức ăn mà nó tiếp xúc, người ngu cũng không thể hiểu được trí tuệ của người khôn ngoan, dù có được thân cận với bậc thánh.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Chúng ta không thể đạt được sự bình an nơi thế giới bên ngoài khi chưa có sự bình an với chính bản thân mình. (We can never obtain peace in the outer world until we make peace with ourselves.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Mục đích cuộc đời ta là sống hạnh phúc. (The purpose of our lives is to be happy.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Một người chưa từng mắc lỗi là chưa từng thử qua bất cứ điều gì mới mẻ. (A person who never made a mistake never tried anything new.)Albert Einstein
Lo lắng không xua tan bất ổn của ngày mai nhưng hủy hoại bình an trong hiện tại. (Worrying doesn’t take away tomorrow’s trouble, it takes away today’s peace.)Unknown

Trang chủ »» Danh mục »» TỦ SÁCH RỘNG MỞ TÂM HỒN »» Bài viết, tiểu luận, truyện ngắn »» Xem đối chiếu Anh Việt: Chuyển pháp luân »»

Bài viết, tiểu luận, truyện ngắn
»» Xem đối chiếu Anh Việt: Chuyển pháp luân

(Lượt xem: 7.723)
Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục 

       

Điều chỉnh font chữ:

Chuyển pháp luân

Conversion of Falun Wheel

Khi xưa, ngay sau khi đức Phật Thích Ca thành đạo; trong năm mươi ngày, Ngài ngồi im lặng chẳng nói một lời, trong lòng tự nhủ: “Pháp ta rất sâu, khó hiểu, khó biết, hết thảy chúng sanh bị pháp thế tục trói buộc nên chẳng hiểu nổi, chi bằng ta yên lặng nhập niềm vui Niết-bàn.” Ngay khi ấy, các Bồ-tát và chư thiên hết sức ngưỡng mộ, chắp tay kính lễ, thỉnh Phật vì hết thảy chúng sanh bị chìm đắm trong biển khổ sanh tử mà chuyển pháp luân. Khi ấy, đức Phật im lặng nhận lời thỉnh cầu, rồi Ngài đến rừng Nai nơi thành Ba La Nại chuyển pháp luân lần đầu tiên, nhận năm anh em Kiều Trần Như là đệ tử. Từ đó, Ngài liên tục nói pháp suốt bốn mươi chín năm, độ vô lượng chúng sanh trong cữu giới.
In the past, right after Shakyamuni Buddha attained enlightenment; For fifty days, he sat silently without saying a word, saying to himself, "My Dharma is very deep, difficult to understand, difficult to know, and all sentient beings are bound by the worldly Dharma and cannot understand it, if only I quietly entered into the joy of Nirvana." At that time, the bodhisattvas and gods admired him very much, joined hands in salute, and asked the Buddha to change the wheel of dharma because all sentient beings were immersed in the sea of suffering and death. At that time, the Buddha silently accepted the request, and then he went to the deer forest in the city of Balanai to transfer the wheel of law for the first time, accepting five Kieu Tran Nhu brothers as disciples. Since then, he has been continuously speaking the Dharma for forty-nine years, to the infinite number of sentient beings in the nine realms.
Phật đem giáo pháp từ nơi tâm của Ngài đưa vào tâm của chúng sanh để hóa độ họ thì gọi là Chuyển Pháp Luân. Người diễn thuyết Phật pháp là đem giáo pháp của Phật đưa vào tâm của người khác nên cũng gọi là Chuyển Pháp Luân. Từ xưa đến nay, các bậc hiền đức đều chỉ là đem giáo pháp của Phật ra để nói; nhẫn đến chư Phật, Bồ-tát thị hiện trong đời cũng không nói khác lời đức Thích Ca Mâu Ni nói. Vì thế, người nói ngoài kinh giáo của Phật dù nữa bước thì chính là ma nói, pháp đó chẳng phải là Phật pháp mà là ma pháp. Lại nữa, Phật pháp là pháp thanh tịnh và bình đẳng; cho nên nếu người nói pháp khởi tâm phân biệt, chấp trước, thị phi nhân ngã, đúng sai phải trái, thuận nghịch, chánh tà... thì người ấy chẳng phải là đang chuyển pháp luân. Chuyển Pháp Luân phải thực hành nơi cả ba tướng thân, khẩu và ý thanh tịnh và bình đẳng. Khi đức Phật đi, đứng, nằm, ngồi và ngay cả sự im lặng của Phật cũng đều là tướng Chuyển Pháp Luân. Do đó, Chuyển Pháp Luân không phải là chỉ riêng cho việc thuyết pháp mà là tất cả các tướng và không tướng có tác dụng khai ngộ chúng sanh. Trong Phẩm Đức Tuân Phổ Hiền của kinh này, từ câu “thường dùng pháp âm giác ngộ thế gian” cho đến trước câu “với căn trung hạ, thị hiện diệt độ” đều là nói về các pháp tướng khác nhau mà Phật dùng để chuyển pháp luân. Đấy cho chúng ta thấy, ngay cả tướng thị hiện diệt độ (nhập Niết-bàn) của Phật cũng chính là chuyển pháp luân.
The Buddha brought the teachings from his mind and brought them into the minds of sentient beings to transform them, which is called the Falun Wheel. The speaker of the Buddhist Dharma is to bring the Buddha's teachings into the minds of others, so it is also called the Falun Wheel. From ancient times to the present, the sages have only brought out the Buddha's teachings to speak; patience with the Buddhas, the Bodhisattvas who appear in life do not say anything different from what Shakyamuni said. Therefore, the person who speaks outside the Buddha's sutras, even if he takes half a step, is the ghost who speaks, and that dharma is not Buddhist dharma, but magic. Again, the Dharma is pure and egalitarian; Therefore, if the person who speaks the Dharma begins to discriminate, attachment, self-deprecation, right and wrong, right and wrong, right and wrong, right and evil... then he is not converting the wheel of truth. Zhuan Falun must practice in all three forms of body, speech, and mind that are pure and equal. When the Buddha walks, stands, lies, sits, and even the Buddha's silence is the general of the Falun Wheel. Therefore, Zhuan Falun is not just for teaching the Dharma, but for all generals and non-generals that have the effect of enlightening sentient beings. In this sutra, from the sentence "often using the Dharma to enlighten the world" to the preceding sentence "with the middle ground, the manifestation of destruction" is all about the different forms of dharma that the Buddha used to transfer the wheel of truth. This shows us that even the Buddha's vision of permanence (entering Nirvana) is the transfer of the wheel of the wheel.
Thế Tôn sau khi nhận lời thỉnh cầu của chư thiên, cả một đời diễn giảng đủ các pháp Ðại, Tiểu, Quyền, Thật, Thiên, Viên để đánh thức hết thảy chúng sanh trong tam giới, nên kinh nói là “thường dùng pháp âm, giác ngộ thế gian.” Phật pháp được lưu chuyển trong hết thảy chúng sanh giới, bao gồm bốn thứ Giáo, Lý, Hạnh, Quả, đều là để phá trừ vô minh phiền não cho chúng sanh. Bốn món này giống như luân bảo của Chuyển Luân Thánh Vương xoay chuyển trong tứ thiên hạ, dùng để đè bẹp các oán địch. Vô minh phiền não chính là oán địch làm cho chúng sanh phải luân chuyển trong luân hồi sanh tử khổ đau. Khi đức Thế Tôn thuyết pháp thì tất cả vi trần cũng nói pháp, tất cả cõi nước cũng nói pháp, nói một cách mạnh mẽ, nói không gián đoạn. Chẳng phải chỉ có hữu tình nói pháp mà vô tình cũng nói pháp. Lúc nói là thuyết pháp, lúc ăn uống, đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, nghĩ v.v… cũng đều là thuyết pháp, thậm chí lúc Phật im lặng hoặc lúc Phật nhập Niết-bàn cũng là thuyết pháp. Vì vậy, chúng ta không thể cho rằng pháp âm chỉ thu hẹp trong ngôn giáo của đức Thế Tôn. Pháp âm của Phật đích thực là tất cả giáo pháp của Như Lai, chớ chẳng phải chỉ giới hạn trong thanh âm, ngôn ngữ; vì thế kinh mới ghi: “Nguyện con đắc tiếng Phật thanh tịnh, Pháp Âm vang khắp vô biên cõi, rộng truyền của cửa giới định tinh tấn, thông đạt thâm sâu pháp niệm mầu, trí huệ lớn rộng sâu như biển, nội tâm thanh tịnh sạch trần lao.”
The Blessed One, after accepting the request of the gods, had a lifetime of teaching all kinds of Dharma, Less, Power, Truth, Heaven, and Yuan to awaken all beings in the three realms, so the sutra said, "I often use the Dharma sound to enlighten the world." The Dharma is circulated in all sentient beings, including the four kinds of Teachings, Reason, Virtue, and Fruit, all of which are to destroy the ignorance and afflictions of sentient beings. These four items are like the Wheel of the Wheel of Saint King's circle that rotates in the four worlds, used to crush the enemies. Ignorance and afflictions are the resentment that causes sentient beings to rotate in the cycle of birth and death suffering. When the Blessed One spoke the Dharma, all the worlds also spoke the Dharma, and all the realms of the kingdom also spoke the Dharma, speaking vigorously, without interruption. It is not only sentient beings who speak the Dharma, but also unknowingly speak the Dharma. When he speaks, he preaches, when he eats, walks, stands, lies, sits, sleeps, thinks, etc. are all teachings, even when the Buddha is silent or when the Buddha enters Nirvana. Therefore, we cannot suppose that the Dharma sound is only narrowed down to the Blessed One's language. The true Buddha's Dharma is all the teachings of the Tathagata, not limited to sound and language; Therefore, the sutra reads: "May I gain the voice of the pure Buddha, the Dharma Sound resounds throughout the boundless realm, the breadth of the door of the precepts of perseverance, the profound understanding of the Dharma and the color of the Dharma, the wisdom is as vast and deep as the sea, and the interior is pure and clean."
Phật diễn nói diệu pháp nhằm để cảm hóa chúng sanh, giúp chúng sanh thấy rõ hai điều cơ bản: Thứ nhất là nguyên nhân gây ra phiền não, thứ hai là phương pháp dùng để phá vở thành phiền não. Phật dạy chúng sanh muốn phá vở thành phiền não thì phải lấp cái hố dục vọng sâu thâm thẩm của mình. Nếu chúng ta y theo lời Phật dạy ở trong kinh mà thực hành thì sẽ mau chóng tẩy sạch được những cấu ô, tâm mình sẽ trở nên sáng sạch thanh tịnh như tâm Phật. Trong kinh Phật nói, có mười căn bản phiền não, đó là: tham, sân, si, mạn, nghi và năm thứ ác kiến: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới thủ kiến; gọi chung là kiến tư, trần sa và vô minh phiền não. Nguyên nhân từ đâu mà có mười thứ căn bản phiền não này? Ái dục là nguyên nhân chánh, là cái gốc của các phiền não, khổ đau. Dòng dục vọng vô cùng sâu rộng, khi chúng ta bị chìm đắm trong ấy rồi thì khó mà vượt qua được, nên kinh gọi nó là cái “hố.” Phật pháp dạy chúng ta đoạn trừ tâm ái dục, khiến nó không còn nữa thì gọi là “lấp hố dục vọng.” Đối với Tịnh tông thì “tẩy sạch cấu ô” chính là thu nhiếp sáu căn. “Sáng sạch thanh tịnh” chính là tịnh niệm tiếp nối, tự được tâm khai. Do tịnh niệm tiếp nối không ngừng nên sáu căn được thu nhiếp, tịch tĩnh; không bị sự tướng bên ngoài làm não loạn. Khi ấy Chân tâm Tự tánh sẽ tự nhiên hiển lộ, rõ thông không ngằn mé, xuất ly tam giới, dứt hẵn sanh tử. Vì vậy, các kinh đều nói: Pháp môn trì danh hiệu Phật là pháp độ tận chúng sanh.
The Buddha spoke about the magic of the Dharma in order to sensitize sentient beings and help them see two basic things: The first is the cause of disturbing emotions, and the second is the method used to break down disturbing emotions. The Buddha taught sentient beings that if they want to break the book into disturbing emotions, they must fill the hole of their deep desires. If we follow the Buddha's teachings in the sutras and practice them, we will quickly be cleansed of the disorders, and our minds will become as clear and pure as the Buddha's mind. In the Buddhist sutras, there are ten basic disturbing emotions, namely: greed, anger, naivety, arrogance, doubt, and the five evil views: the precepts, the precepts, the wrong precepts, the precepts of the perceptors, and the precepts of the precepts; collectively referred to as the thoughts, the world, and the ignorance of disturbing emotions. Where did the cause of these ten basic afflictions come from? Craving is the main cause, the root of afflictions and suffering. The stream of desire is extremely deep, and when we are immersed in it, it is difficult to overcome, so the sutra calls it a "hole." The Buddhist Dharma teaches us to get rid of craving and make it no longer exist, which is called "filling the hole of desire." For the Pure Buddhism, "cleansing the umbrella" is to collect the six bases. "Clear and pure" is the continuous mindfulness, self-enlightenment. Because of the continuous silent mindfulness, the six units were collected and stilled; not to be disturbed by external generals. Then the True Mind of Nature will naturally appear, clear and unlimited, depart from the three realms, and cease to be born and die. Therefore, the sutras all say: The Dharma of maintaining the name of Buddha is the Dharma of all sentient beings.
Sáu căn và tâm là mấu chốt phát sinh vọng tưởng. Khi sáu căn tiếp xúc với trần cảnh, tâm liền phát sinh ra vọng thức; mà vọng thức thì gồm có đủ các thứ như là buồn vui, thương ghét, thuận nghịch, ngược xuôi, có không, hơn thua, đúng sai, phải trái v.v... Đấy chính là những cấu ô làm nguyên nhân của sinh tử luân hồi mà đức Phật bảo chúng ta phải tẩy sạch. Mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây tâm thức của con người thường luôn thay đổi, nên con người phải sống với vọng tâm điên đảo. Cũng bởi do cái cái tâm cuồng loạn này mà chúng ta phải luân chuyển theo thời gian và không gian, nên cái tâm thức ấy gọi là vọng tâm. Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm đức Phật bảo, vọng tâm chỉ là khách trần, nó thường luôn biến tướng theo thời gian và không gian; nó có đến thì tức nhiên sẽ có đi. Còn Chân tâm thì lúc nào cũng sáng sạch thanh tịnh, không biến đổi theo thời gian và không gian. Chân tâm không bao giờ có những thứ cấu ô như là buồn, vui, hờn, giận, tham, muốn, thương, ghét, tốt, xấu v.v... Vì thế, Phật khuyên chúng sanh: Nếu muốn tìm thấy Chân tâm Tự tánh của mình thì phải phá thành phiền não, lấp hố dục vọng, tẩy sạch cấu ô thì tâm mới có thể sáng sạch thanh tịnh. Nói cách khác, bởi do vọng tưởng là căn bản của sinh tử luân hồi, và Chân tâm thanh tịnh là căn bản của Bồ-đề Niết-bàn, nên Phật khuyên bảo chúng sanh phải buông xả rốt ráo vọng tâm phiền não xuống để Chân tâm thanh tịnh được hiển lộ.
The six bases and the mind are the key to the emergence of delusions. When the six bases come into contact with the world, the mind immediately gives rise to echoconsciousness; The echoes include all kinds of things, such as joy and sorrow, hate, reverse, yes or no, more than losing, right and wrong, right and left, and so on. These are the structures that are the cause of samsara that the Buddha told us to cleanse. Every hour, every minute, every second, people's minds are always changing, so people have to live with crazy fantasies. It is also because of this hysterical mind that we have to rotate through time and space, that mind is called the echoing mind. In the Sutra of the Tomb of the Buddha, the mind is only a mortal visitor, it often changes with time and space; If it comes, it will go immediately. The True Mind is always bright and pure, unchanging with time and space. The true mind never has such things as sadness, joy, resentment, anger, greed, wanting, love, hate, good, bad, etc. Therefore, the Buddha advised sentient beings: If you want to find your True Nature, you must break through the disturbing emotions, fill the hole of desire, and cleanse the structure, so that the mind can be clear and pure. In other words, because delusion is the basis of samsara, and pure true mind is the basis of bodhicitta nirvana, the Buddha advised sentient beings to let go of their disturbing emotions so that the pure true mind can be manifested.
Tất cả Bồ-tát đều tu hạnh Phật, nên cũng đều có nguyện lực hoằng thâm, nguyện nguyện đều là để độ hết thảy chúng sanh qua bờ bên kia, không bỏ sót lại một ai. Vì độ quần sanh mà các Ngài thị hiện khắp nơi để khai thị Phật tri kiến, khiến cho hết thảy hữu tình ngộ Phật tri kiến và nhập Phật tri kiến, nên kinh ghi: “Độ tận chúng sanh, tuyên nói diệu lý.” Chư vị Bồ-tát thuyết minh, tuyên nói diệu lý là để giúp chúng sanh nhìn thấu cái tướng trạng phiền não của họ, nhằm hướng dẫn họ tu giới định huệ để điều hòa tâm tưởng, đoạn trừ tham, sân, si, xa rời hết thảy vọng tưởng, phân biệt chấp trước, tinh cần nỗ lực tích lũy công đức. Như Lai là đại y vương biết được hết thảy các thứ bệnh của chúng sanh, tùy theo bệnh mà cho thuốc khác nhau. Phật pháp ví như thuốc chữa bệnh tật khổ của chúng sanh. Đức Phật nói, hết thảy các pháp công đức đều là thuốc hay có thể cứu trị hết thảy các bệnh của chúng sanh; nhưng trong các thuốc hay đó, niệm Phật là thuốc hay nhất có thể trị được tất cả các thứ bệnh nơi thân lẫn tâm. Vì ở nơi Phật chứa đựng vô lượng vô biên công đức thắng diệu, nên Phật được ví như là mãnh ruộng tốt lớn, là phước điền cho hết thảy Bồ-tát và chúng sanh. Vì thế, Phật là nơi cho hết thảy Bồ-tát và chúng sanh nương tựa, quy y chiêm lễ, cung kính cúng dường, gieo trồng và tích lũy các công đức lành. Ở nơi chư Phật Như Lai, vật cúng dường tuy nhỏ, nhưng lại được phước rộng lớn; giống như trên mãnh ruộng tốt, chúng ta chỉ cần gieo chút ít lúa giống mà lại thâu được rất nhiều hạt lúa mập mạp tốt lành. Vì vậy, phương pháp tu học và giáo lý của kinh Vô Lượng Thọ là nhằm giúp cho phàm phu chúng ta trong một đời này có thể đem cuộc sống khổ đau trước mắt thay đổi thành cuộc sống đại tự tại, tròn đầy an vui giống như chư Phật, Bồ-tát. Đồng thời, kinh này còn có khả năng giúp cho chúng ta có thể dự báo thời điểm, lúc nào sẽ được vãng sanh, thành Phật. Nếu chúng ta niệm niệm đều lưu nhập trong tạng pháp này của A Di Di Đà Như Lai, quyết định sẽ không còn thối chuyển nơi quả vị Vô thượng Bồ-đề, nên phẩm Thọ ký Bồ-đề ghi: “Nếu có chúng sanh nơi kinh điển này biên chép cúng dường, thọ trì đọc tụng. Trong một khoảnh khắc vì người diễn nói, khuyến khích lắng nghe, không sanh ưu não, cho đến ngày đêm nghĩ tưởng cõi đó và công đức Phật nơi đạo vô thượng, rốt không thối chuyển. Người ấy lâm chung, giả sử ba ngàn đại thiên thế giới chìm trong lửa lớn, cũng đặng siêu hóa, sanh về Cực Lạc. Người ấy đã từng gặp Phật quá khứ thọ ký Bồ-đề, tất cả Như Lai đồng thời khen ngợi. Thế nên cần phải chuyên tâm tin nhận, trì tụng nói làm.”
All bodhisattvas are practicing Buddhahood, so they all have a profound will, and their wish is to bring all sentient beings to the other side, leaving no one behind. Because of the extent of the number of sentient beings, they appear everywhere to reveal the Buddha's knowledge, so that all sentient beings can understand the Buddha's vision and enter the Buddha's view, so the sutra reads: "To the end of sentient beings, to proclaim the truth." The bodhisattvas explain and declare that the good truth is to help sentient beings see through their disturbing states, in order to guide them to cultivate the precepts of wisdom in order to regulate their thoughts, to eliminate greed, anger, and delusion, to shun all delusions, to distinguish attachments, and to make efforts to accumulate merit. The Tathagata is the great medicine king who knows all the diseases of sentient beings, and according to the disease, he gives different medicines. The Dharma is like a cure for the sickness and suffering of sentient beings. The Buddha said that all merits are medicines that can cure all the diseases of sentient beings. but among these good medicines, reciting the Buddha is the best medicine that can cure all diseases in the body and mind. Because the place where the Buddha contains immeasurable and wonderful merits, the Buddha is likened to a great field of good and good and a blessing for all bodhisattvas and sentient beings. Therefore, the Buddha is a place for all bodhisattvas and sentient beings to rely on, take refuge in contemplation, reverence for offerings, cultivate and accumulate good merits. In the place of the Tathagata Buddhas, the offerings are small, but they are blessed with a large amount; Just like in a good field, we only need to sow a few rice seeds and collect a lot of good fat rice seeds. Therefore, the method of study and teachings of the Sutra of Immeasurable Life is to help us ordinary people in this life to be able to transform the life of suffering in front of us into a life of great freedom, full of joy like the Buddhas and Bodhisattvas. At the same time, this sutra also has the ability to help us to predict when and when we will be reborn as a Buddha. If we recite it in this Dharma organ of Amitabha Tathagata, the decision will no longer rot in the Supreme Bodhisattva fruit. Therefore, the Bodhisattva Scripture reads: "If there are sentient beings in this scripture, they will write down and make offerings, and recite them. For a moment because the actor speaks, encourages listening, does not give birth to the brain, until day and night thinks about that realm and the Buddha's merit in the supreme way, in the end, does not rot. He dies, assuming that the three thousand great heavens of the world are engulfed in great fire, and he will also be transcended and reborn in Bliss. He has met the Buddha in the past, and all the Tathagata have praised him at the same time. Therefore, it is necessary to devote yourself to believing, reciting and saying and doing."
Đức Phật nói ra pháp lành để chúng sanh thường luôn không ngừng học tập và đồng thời áp dụng lời Phật dạy trong cuộc sống đời thường, tức là giác mà không mê, chánh mà không tà, tịnh mà không nhiễm. Vì vậy, chúng ta phải biết áp dụng lời Phật pháp ngay trong cuộc sống đời thường, ở ngay nơi huyễn mà tâm mình lìa được huyễn thì đấy mới thật sự là giác ngộ. Thêm nữa, vì để lưu chuyển kinh này cùng khắp thập phương thế giới, nên Phật tuyên bố là Ngài sẽ hướng dẫn người thọ trì kinh này tu hành đúng như lý như pháp, tức là người tu học theo liễu nghĩa kinh này sẽ được chư Phật, Bồ-tát đích thân chỉ dạy để trở thành vị A-xà-lê sư phạm. Đức Phật tuyên dương, tán thán chư đại Bồ-tát có đầy đủ khả năng và lực dụng để giúp cho các hàng Bồ-tát sơ học thành tựu vô biên căn lành và cũng trở thành những vị A-xà-lê sư phạm. Vì vậy, chư đại Bồ-tát tu trì theo kinh này đều được sự hộ niệm của hết thảy chư Phật trong mười phương, nên kinh ghi: “Thăng bậc quán đảnh, thọ ký Bồ-đề, vì dạy Bồ-tát làm A-xà-lê, thường tập tương ưng vô biên các hạnh, thành thục vô số căn lành Bồ-tát, được vô lượng Phật đồng nhau hộ niệm.” Chư Phật từ tâm đại bi hộ niệm làm cho Bồ-tát trụ nơi Phật quả cao tột nhất thì gọi là “Quán Ðảnh.”
The Buddha spoke the good dharma so that ordinary sentient beings would always study and at the same time apply the Buddha's teachings in their daily lives, that is, enlightenment without delusion, righteousness without evil, and pure without contamination. Therefore, we must know how to apply the Dharma's words in our daily lives, right in the illusory place where our mind is delusional, then that is truly enlightenment. In addition, in order to circulate this sutra with all ten directions of the world, the Buddha declared that he would guide the recipients of this sutra to practice in accordance with the Dharma, that is, those who practice according to the meaning of this sutra will be personally instructed by the Buddhas and Bodhisattvas to become the teacher of Ashale. The Buddha praised and praised the great bodhisattvas for having the full ability and strength to help the beginner bodhisattvas achieve boundless good roots and also become teacher Ashales. Therefore, the great bodhisattvas who practice according to this sutra are all protected by all the Buddhas in the ten directions, so the sutra reads: "Ascending to the level of empowerment, taking the Bodhisattva Record, because of teaching the Bodhisattva to be an Azale, he often practices infinite virtues, masters the countless bodhisattva virtues, and is protected by the innumerable Buddhas of the same mind." The Buddhas from the heart of great compassion protect the bodhisattvas who dwell in the highest Buddhahood are called "Empowerment."
Quán đảnh có nhiều loại, nói giản lược thì có hai thứ: Kết duyên Quán đảnh và Thọ chức Quán đảnh. Kết duyên Quán đảnh là pháp Quán đảnh cho người chân thật cầu pháp được kết duyên với Phật, nên được chư Phật dẫn dắt vào đàn, truyền cho tâm ấn và chân ngôn của Bổn Tôn. Từ đấy trở đi, người ấy có thể nương theo lời Phật dạy mà tùy sức tu tập. Thọ chức Quán đảnh là pháp Quán đảnh dành riêng cho bậc tích chứa công hạnh đúng pháp, nên được Phật truyền thọ pháp bí yếu thâm sâu. Người được Thọ chức Quán đảnh xong thì có thể làm thầy dạy, làm bậc A-xà-lê trong Mật pháp của Như Lai. Chữ “Mật pháp” ở đây có nghĩa là pháp thâm mật, sâu xa, huyền diệu, chớ không có nghĩa là pháp bí mật; bởi vì Phật chẳng hề giữ pháp nào bí mật cả.
There are many types of empowerments, and in a nutshell, there are two things: Empowerment and Empowerment. Empowerment is an empowerment for a sincere person to pray for the Dharma to be predestined for the Buddha, so he should be led into the flock by the Buddhas, passing on the seals and truths of the Buddha. From then on, he can follow the Buddha's teachings and practice as he pleases. Taking the empowerment is an empowerment reserved for those who have accumulated the right merits, so it was transmitted by the Buddha to receive the profound secret dharma. A person who has been ordained as an empowerment can become a teacher or an Azaleh in the Tantra of the Tathagata. The word "Tantric Dharma" here means profound, profound, magical dharma, not secret dharma; because the Buddha did not keep any dharma secret.
Ngoài ra, Quán đảnh còn có hai địa vị; đó là Sơ vị Quán đảnh và Hậu vị Quán đảnh. Sơ vị Quán đảnh là: Để duy trì dòng giống Phật chẳng bị đứt đoạn nên chư Phật dùng nước cam lộ rưới lên đảnh đầu của Phật tử, từ đây trở đi hết thảy Thánh chúng đều phải kính ngưỡng, ủng hộ và bảo vệ người này; bởi vì người này rốt ráo chẳng thối thất nơi quả vị Vô thượng Bồ-đề, người này quyết định sẽ kế tục địa vị pháp vương của Như Lai. Hậu vị Quán đảnh là: Bồ-tát từ Sơ địa đến Ðẳng giác lúc gần đạt quả vị Phật cứu cánh, chư Phật dùng nước đại bi quán đảnh làm tăng thượng duyên cho Bồ-tát, làm cho tự hạnh của Bồ-tát liền được viên mãn, chứng đắc Phật quả. Nếu xét về các bậc Đại sĩ trong pháp hội Vô Lượng Thọ thì chữ “thăng bậc quán đảnh” đây có nghĩa là Hậu vị Quán đảnh, còn về phía chúng sanh được Phật dạy dỗ theo kinh này là Sơ vị Quán đảnh. Đấy cho chúng ta thấy, kinh Vô Lượng Thọ thật sự là đảnh pháp của Như Lai, là pháp cao tột đỉnh, cao hơn cả kinh Hoa Nghiêm, nên người thọ trì kinh này đều được Phật quán đảnh. Bởi thế, nếu ai đọc tụng bộ kinh này từ đầu đến cuối một lượt thì được mười phương Như Lai quán đảnh một lần, nếu người đó đọc bộ kinh này từ đầu đến cuối mười lần thì được mười phương Như Lai quán đảnh mười lần; đây chính là Sơ vị Quán đảnh.
In addition, Empowerment also has two statuses; these are the Preliminary Empowerment and the Post-Empowerment. The preliminary empowerment is: In order to maintain the Buddha's lineage unbroken, the Buddhas use orange juice to sprinkle on the head of the Buddhist, and from now on, all the Saints must respect, support and protect this person; because this person did not lose the position of Supreme Bodhi in the end, he decided to succeed the status of the Dalai Lama's Dharma King. The post-empowerment is: The Bodhisattva from the Primordial Land to the Enlightenment is about to attain the Buddhahood of salvation, the Buddhas use the water of great compassion to increase the predestined conditions for the Bodhisattva, so that the Bodhisattva's self-deeds are immediately consummated, and the Buddhahood is attained. In terms of the great masters in the Immeasurable Life Dharma Society, the word "promotion to the level of empowerment" means the Later Empowerment, and on the other hand, the sentient beings taught by the Buddha according to this sutra are the Primordial Empowerments. This shows us that the Sutra of Immeasurable Life is really the Dharma of the Tathagata, the supreme dharma, higher than the Lotus Sutra, so those who recite this sutra are empowered by the Buddha. Therefore, if a person recites this sutra from beginning to end in one turn, he will receive an empowerment of the ten directions of the Tathagata once, and if he recites this sutra from the beginning to the end ten times, he will receive ten empowerments of the ten directions of the Tathagata. this is the Preliminary Empowerment.
Phật đối với chúng sanh phát đại bi tâm, làm pháp Quán đảnh, trao lời huyền ký cho họ biết trước trong tương lai họ quyết định sẽ thành Phật, thì gọi là “thọ ký Bồ-đề.” đức Phật tiên đoán trong ương lai vào thời điểm nào hành nhân sẽ được vãng sanh, thành Phật là để cho hành nhân biết được cái lợi ích của việc tu nhân của chính mình, làm cho hành nhân biết được rằng: Với cái nhân Bồ-đề hiện tại, quyết định sẽ trở thành cái quả thành Phật trong tương lai, hành nhân chớ nên nghi hối điều này mà tự gây lỗi lầm, làm mất lợi lớn. Chúng ta phải biết kinh Vô Lượng Thọ có khả năng báo cho hành nhân biết trước thời điểm họ được vãng sanh, thành Phật. Vì sao? Vì nội dung của kinh này hàm chứa ý rằng: Các bậc Đại sĩ trong pháp hội đều được Phật thọ ký, quyết định sẽ thành Phật; cũng giống như chư Phật, các vị Đại sĩ này cũng rộng độ hữu tình, vì chúng sanh mà thọ ký cho họ thành Phật. Vì thế, kinh Vô Lượng Thọ còn có cái tên khác là Kinh Thọ Ký Bồ-đề.
The Buddha for sentient beings to develop great compassion, perform empowerments, and give secret words to them to know in advance that they will decide to become Buddhas in the future, it is called the "Bodhisattva Record." The Buddha predicted in the future when the practitioner would be reborn and become a Buddha so that the practitioner would know the benefits of his own cultivation. make the practitioner know that: With the current bodhicitta cause, the decision will become the fruit of Buddhahood in the future, the practitioner should not doubt this and make mistakes and cause great losses. We must know that the Sutra of Immeasurable Life is capable of informing practitioners before the time when they are reborn and become Buddhas. Why? Because the content of this sutra implies that: The great masters in the Dharma Assembly are all signed by the Buddha and decided to become Buddhas; Just like the Buddhas, these great masters are also generous and sentient beings, and they have signed for them to become Buddhas for the sake of sentient beings. Therefore, the Sutra of Immeasurable Life is also known as the Sutra of Bodhisattva.
A-xà-lê (acarya) dịch là giáo thọ hay quỹ phạm sứ, thường dùng để tôn xưng các bậc dạy dỗ pháp lành, bậc khuôn phép về chánh hạnh, bậc làm mô phạm cho chúng Tăng. Trong Mật tông, A-xà-lê cũng là tiếng tôn xưng bậc truyền pháp Quán đảnh. Sau khi hành nhân được thăng bậc quán đảnh, tức là được Thọ chức Quán đảnh thì sẽ được vị A-xà-lê chỉ dạy chân ngôn và được gọi là Kim Cang A-xà-lê, kế tục địa vị của tổ sư Kim Cang Tát-đỏa (tức Phổ Hiền Bồ-tát) đi giáo hóa chúng sanh. Cũng giống như vậy, trong kinh này nói, sau khi được Phật thọ chức Quán đảnh, chư Đại sĩ trong pháp hội đảm trách công việc dạy dỗ các sơ địa Bồ-tát thành Kim Cang A-xà-lê, nên bản thân của Đại sĩ cũng phải thường luôn tu tập vô lượng vô biên các hạnh tương ưng với chư Phật, tức là sự hành trì phải khế hợp với Tam Mật Tương Ưng. Khi thân, khẩu, ý của chúng sanh khế hợp với tam mật của Như Lai thì ngay nơi thân này mà thành Phật, chớ chẳng phải chờ đến khi xả bỏ nghiệp báo thân mới thành Phật. Nói cách khác, thành Phật là tâm thành Phật chớ chẳng phải thân thành Phật; cho nên, ngay nơi thân này thành Phật thì được gọi là thân Chánh Biến Tri. Tỷ dụ: Thân của Thích Ca Mâu Ni trước và sau khi thành Phật đều chỉ là một thân sanh lão bệnh tử, chớ chẳng có gì khác nhau; thế nhưng cái thân trước khi thành Phật thì gọi là thân phàm phu, còn cái thân sau khi thành Phật thì gọi là thân Chánh Biến Tri.
Acarya, which translates as teaching or monastic fund, is often used to honor those who teach good dharma, those who are good teachers of righteous conduct, and those who serve as exemplars for monks. In tantra, acharya is also the name of the one who preaches the empowerment. After the practitioner has been promoted to the level of empowerment, that is, he or she has attained the position of empowerment, he will be taught the truth by the Ashali and will be called Vajrayana Ashale, who will succeed the position of the Vajrayana (i.e., the Bodhisattva Pho Hien Bodhisattva) to educate sentient beings. In the same way, it is said in this sutra that after being ordained as an empowerment by the Buddha, the great masters in the Dharma Assembly are in charge of teaching the Bodhisattvas into Vajrayana Ashali, so the great master himself must always practice the immeasurable and infinite qualities of the Buddhas. that is, the practice must be in harmony with the Three Secrets. When the body, speech, and mind of sentient beings are in harmony with the three secrets of the Tathagata, they become Buddhas right in this body, and they do not have to wait until they give up the karma of retribution to become Buddhas. In other words, becoming a Buddha is the mind that becomes a Buddha, not a Buddha's body. Therefore, right where this body becomes a Buddha, it is called the body of True Transformation. For example: Shakyamuni's body before and after becoming a Buddha is only a body born and old and sick, and there is no difference; However, the body before becoming a Buddha is called the ordinary body, and the body after becoming a Buddha is called the body of True Transformation.
Vì chư Phật muốn khiến cho các Chánh sĩ trong hội đều thành thục vô biên thiện căn, nên các Ngài hết sức khen ngợi, khuyến khích các Chánh sĩ tuân tu theo đức hạnh của Phổ Hiền Đại sĩ. Thêm nữa, vì chư Phật muốn khiến cho sự lành của Bồ-tát vững chắc không thay đổi nơi ba nghiệp thân, miệng, ý nên chư Phật luôn thân cận, giữ gìn, che chở khiến cho Bồ-tát lìa ác và giúp cho Bồ-tát tăng trưởng lực niệm thêm lên. Cũng giống như vậy, chư Phật hộ niệm cho Bồ-tát như thế nào, thì Bồ-tát lại hộ niệm cho chúng sanh như thế đó, nên kinh ghi: “Thành thục vô số căn lành Bồ-tát, được vô lượng Phật đồng nhau hộ niệm.”
Because the Buddhas wanted to make the masters in the association all mature and virtuous, they highly praised and encouraged the masters to follow the virtues of the Great Sage. In addition, because the Buddhas want to make the Bodhisattva's goodness firm and unchanged in the three karmas of the body, mouth, and mind, the Buddhas are always close, preserving and protecting, so that the Bodhisattva will renounce evil and help the Bodhisattva to grow his mental power. In the same way, just as the Buddhas recited to the Bodhisattvas, the Bodhisattvas remembered for sentient beings in the same way, so it is written: "Mastering the innumerable virtues of the Bodhisattvas, being protected by the same number of Buddhas."




    « Xem chương trước       « Sách này có 1542 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này



_______________

MUA THỈNH KINH SÁCH PHẬT HỌC

DO NXB LIÊN PHẬT HỘI PHÁT HÀNH




Hạnh phúc là điều có thật


Thiếu Thất lục môn


Kinh Duy-ma-cật (Việt dịch)


Nghệ thuật chết

Mua sách qua Amazon sẽ được gửi đến tận nhà - trên toàn nước Mỹ, Canada, Âu châu và Úc châu.

XEM TRANG GIỚI THIỆU.

Tiếp tục nghe? 🎧

Bạn có muốn nghe tiếp từ phân đoạn đã dừng không?



Quý vị đang truy cập từ IP 216.73.216.60 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Viên Hiếu Thành Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Lộc 1959 Rộng Mở Tâm Hồn Bữu Phước Rộng Mở Tâm Hồn Chúc Huy Rộng Mở Tâm Hồn Minh Pháp Tự Rộng Mở Tâm Hồn minh hung thich Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Âm Phúc Thành Rộng Mở Tâm Hồn Phan Huy Triều Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thiên Rộng Mở Tâm Hồn Trương Quang Quý Rộng Mở Tâm Hồn Johny Rộng Mở Tâm Hồn Dinhvinh1964 Rộng Mở Tâm Hồn Pascal Bui Rộng Mở Tâm Hồn Vạn Phúc Rộng Mở Tâm Hồn Giác Quý Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Huyền Rộng Mở Tâm Hồn Chanhniem Forever Rộng Mở Tâm Hồn NGUYỄN TRỌNG TÀI Rộng Mở Tâm Hồn KỲ Rộng Mở Tâm Hồn Dương Ngọc Cường Rộng Mở Tâm Hồn Mr. Device Rộng Mở Tâm Hồn Tri Huynh Rộng Mở Tâm Hồn Thích Nguyên Mạnh Rộng Mở Tâm Hồn Thích Quảng Ba Rộng Mở Tâm Hồn T TH Rộng Mở Tâm Hồn Tam Thien Tam Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Sĩ Long Rộng Mở Tâm Hồn caokiem Rộng Mở Tâm Hồn hoangquycong Rộng Mở Tâm Hồn Lãn Tử Rộng Mở Tâm Hồn Ton That Nguyen Rộng Mở Tâm Hồn ngtieudao Rộng Mở Tâm Hồn Lê Quốc Việt Rộng Mở Tâm Hồn Du Miên Rộng Mở Tâm Hồn Quang-Tu Vu Rộng Mở Tâm Hồn phamthanh210 Rộng Mở Tâm Hồn An Khang 63 Rộng Mở Tâm Hồn zeus7777 Rộng Mở Tâm Hồn Trương Ngọc Trân Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Tiến ... ...

... ...