Kinh Ðại Niết-bàn ghi: “Niết là không sinh, Bàn là không diệt. Không sinh không diệt thì gọi là Ðại Niết-bàn.” Kinh Duy Ma cũng dạy: “Pháp vốn chẳng sanh, nên nay chẳng diệt.” Vậy chữ “không sinh không diệt” có nghĩa là Niết-bàn.
The Great Nirvana Sutra says: "Nirvana is non-birth, and Nirvana is non-extinguishing. If there is no birth or death, it is called the Great Nirvana." The Duy Ma Sutra also taught: "The Dharma was not born, so it does not cease now." So the word "non-birth, no death" means Nirvana.
Vào thời Đức Phật còn tại thế, có một ẩn sĩ Bà-la-môn khi gặp Ngài Xá Lợi Phất liền hỏi: “Niết-bàn, Niết-bàn, này ông bạn Xá Lợi Phất xin nói cho biết Niết-bàn là cái gì vậy?” Tôn giả Xá Lợi Phất trả lời: “Sự tiêu diệt lòng tham muốn, sự tiêu diệt lòng nóng giận hận thù, sự tiêu diệt lòng si mê sai lạc là cái mà con người gọi là Niết-bàn.”
When the Buddha was still alive, there was a Brahmin hermit who met Śārī Buddha and asked, "Nirvana, Nirvana, what is Nirvana?" The Venerable Śārī Buddha replied, "The destruction of desire, the destruction of anger and hatred, the destruction of misguided delusion is what people call Nirvana."
Khi nói về Niết-bàn, Đức Phật dạy: “Nếu chúng sanh nào đã từ bỏ thú vui và lòng tham muốn, đã đầy đủ trí tuệ thì họ đã đạt đến sự tịch tĩnh và sự giải thoát sanh tử; đã đạt đến Niết-bàn, tức là đến được nơi an dưỡng thường tồn, vĩnh cửu ngay ở trong cõi đời nầy.” Như vậy, Niết-bàn không phải là một cõi, một cảnh, một tâm trạng và dĩ nhiên Niết-bàn cũng không phải là cái hư vô. Rõ ràng là chúng ta không thể dùng văn tự, ngôn ngữ của con người để diễn tả Niết-bàn.
Speaking of Nirvana, the Buddha taught, "If any sentient being who has given up pleasure and desire, and is full of wisdom, he or she has attained tranquility and liberation of birth and death; have attained Nirvana, that is, to the place of eternal and eternal dwelling in this world." Thus, Nirvana is not a realm, a scene, a mood, and of course Nirvana is not nothingness. Obviously, we cannot use human writing and language to express Nirvana.
Nói như vậy, Niết-bàn thật sự có hay không có? Trong kinh Na Tiên Tỳ-kheo, vua Milinda hỏi Na Tiên Tỳ-kheo: “Thế nào là Niết-bàn?” Ngài Na Tiên trả lời: “Tâu Hoàng thượng, thật sự có Niết-bàn và Niết-bàn chỉ có thể lấy trí mà nhận biết. Nếu chúng sanh giữ được tâm thanh tịnh và chánh trực, thoát khỏi các nghiệp chướng và các tham muốn thấp hèn thì chính họ sẽ thấy được Niết-bàn.” Nhà vua hỏi Ông Na Tiên: “Xin Ngài cho một thí dụ về Niết-bàn.” Ngài Na Tiên hỏi ngược lại nhà vua: “Hoàng thượng biết có một cái gọi là gió phải không? Nhưng Hoàng thượng có biết gió có màu sắc gì? Hình dáng ra sao? Nó dày hay mỏng? Dài hay ngắn như thế nào không?” Nhà vua đáp: “Gió thì vô hình vô sắc, làm sao chỉ được. Tuy không chỉ được, nhưng nó vẫn có.” Bây giờ Tỳ-kheo Na Tiên mới kết luận: “Cũng giống như thế, tâu Hoàng thượng, Niết-bàn là cái thật sự có, nhưng nó không có hình sắc, nên không thể dùng văn tự ngôn ngữ để diễn tả cho con người thấy được.” Nhà vua lại hỏi: “Thế thì làm sao biết được Niết-bàn? Thế nào là nhờ sự thoát khỏi phiền não, giải thoát nghiệp chướng, nhờ sự an ổn, an lạc thanh tịnh thì mới có được Niết-bàn?” Ngài Na Tiên trả lời: “Như người té vào đống lửa ngùn ngụt, nếu họ cố gắng vượt ra khỏi và lên được chỗ mát thì người ấy sẽ cảm thấy sung suớng vô cùng; đó chính là Niết-bàn. Cũng thế, người thoát khỏi lửa của tham, sân, si sẽ huởng cái sung sướng an tịch của Niết-bàn. Cũng như người thoát ra khỏi những tâm niệm bất thiện, người ấy sẽ hưởng cái sung sướng Niết-bàn. Và sau cùng, những ai thoát khỏi cái lo sợ của sanh, lão, bệnh, tử thì người ấy sẽ hưởng cái sung sướng Niết-bàn.”
That being said, does Nirvana really exist or is there not? In the Nativity Sutra, King Milinda asked Nativity, "What is Nirvana?" Nathan replied, "Your Majesty, there is indeed Nirvana, and Nirvana can only be recognized by the mind. If sentient beings keep their minds pure and upright, and are free from karma and lowly desires, they themselves will see Nirvana." The king asked Nathaniel, "Please give me an example of Nirvana." Na Tien asked the king in return: "Your Majesty knows that there is such a thing as the wind, right? But does Your Majesty know what color the wind is? What does it look like? Is it thick or thin? How long or short?" The king replied: "The wind is invisible and colorless, how can it be directed? Not only that, but it's still there." Now the bhikshu Na Tien concluded, "In the same way, O Majesty, Nirvana is what really exists, but it has no form, so it cannot be described by words and language." The king asked again, "Then how do you know Nirvana? What is it through liberation from afflictions, liberation from karma, and through peace and pure peace?" Nathan replied, "Like a man who falls into a stifling fire, if he tries to get out and get to a cool place, he will feel great joy; that is Nirvana. In the same way, a person who is free from the fire of greed, hatred and ignorance will enjoy the blissful happiness of Nirvana. Just as one is free from unwholesome thoughts, he will enjoy the happiness of Nirvana. And finally, those who are free from the fear of birth, old age, sickness, and death will enjoy the happiness of Nirvana."
Tiểu thừa dựa vào lý Hữu Dư Niết-bàn để quán bất sanh bất diệt, nên nghiêng về Thiên Không. Ðại Thừa dựa vào Kim Cang Bát-nhã để quán lý Trung đạo Thật tướng, nên có thể tự tại từ không nhập giả, từ giả nhập không, tức là ngay nơi cái có sự tướng mà hiển thị lẽ không sinh không diệt. Trong Đại thừa Phật pháp: “Ngay nơi tướng chính là đạo, ngay nơi sự chính là chân,” thì đấy mới là Vô Dư Niết-bàn.
Hinayana relies on the principle of Nirvana to contemplate immortality and immortality, so he leans towards Heavenly Void. The Mahayana relies on the Vajrayana to grasp the True Middle Path, so it is possible to spontaneously enter the Middle Way, from the false to the void, that is, right where there is a generality that shows the non-birth and non-extinction. In the Mahayana Dharma: "Right where the form is the way, right where the truth is the truth," that is the Infinite Nirvana.
Khi xưa, Lục tổ Huệ Năng nhờ nghe được câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” trong kinh Kim Cang mà bổng nhiên đại ngộ. Câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” có nghĩa là đừng sanh vọng tâm mà trụ chấp vào bất cứ một nơi hay sự vật nào cả. Bồ tát do an trụ tâm như vậy nên có thể tuy độ vô lượng chúng sanh mà vẫn không thấy có một chúng sanh để độ, kinh gọi đó là hành Trung đạo! Bồ tát do an trụ tâm trong Trung đạo Thật tướng nên có thể bố thí Ba-la-mật, tức là có thể cúng dường pháp cho hết thảy chúng sanh bằng cái tâm Tam Luân Không Tịch, tức là không thấy mình bố thí, không thấy người nhận bố thí và cũng không thấy vật bố thí. Do bố thí như vậy nên Bồ-tát mới có thể an trụ trong hết thảy pháp công đức, thành tựu vô lượng vô biên công đức trang nghiêm. Nói cho căn kẽ hơn, Bồ-tát do hành Trung đạo nên có thể suốt ngày độ sanh mà suốt ngày cũng chẳng độ sanh, suốt ngày tiếp xúc với vạn duyên mà vẫn luôn nhất tâm không tịch, suốt ngày thực hành rốt ráo cả sáu độ Ba-la-mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ) mà vẫn luôn an trụ trong các tam muội bất sanh bất diệt, chẳng đánh mất định ý. Bồ-tát tâm thường an trú trong Vô Dư Niết-bàn mà lại có thể thực hành Lục độ Vạn hạnh với trí tuệ Bát nhã như vậy, nên thường được chư Phật đồng thanh khen ngợi: “Rốt ráo Bồ-tát, các Ba-la-mật, và thường an trú, nơi Tam-ma-địa, không sinh không diệt, đi khắp đạo tràng, xa cảnh Nhị thừa.”
In the past, the Six Ancestors of Hue Nang suddenly had a great enlightenment thanks to hearing the phrase "Hung has no headquarters for children to be born wonderful" in the Vajrayana Sutra. The phrase "Without a base, a child is born with a wonderful mind" means not to be born with a delusional mind, but to cling to any place or thing. A bodhisattva has such a state of mind, so he can still not see a single being to cultivate even though he has immeasurable sentient beings, and he calls it the Middle Way! A bodhisattva is able to give alms to brahmins, that is, he can offer the Dharma to all sentient beings with the mind of the Three Wheels of Voidness, that is, he does not see himself giving alms, he does not see the recipient of the alms, nor does he see the almsgiving. It is because of this generosity that the Bodhisattva is able to dwell in all the merits, attaining immeasurable and immeasurable merits. To put it more simply, a bodhisattva is able to be born all day long without being born all day long, all day long in contact with all kinds of conditions and still being unconscious, all day long practicing all the six degrees of brahmins (almsgiving, self-discipline, patience, perseverance, etc.). meditation, wisdom) but always dwelling in the immortal and immortal three nobles, without losing the intention. The bodhisattva mind often dwells in the Infinite Nirvana and is able to practice the Six Ten Thousand Virtues with the wisdom of the Prajna, so he is often praised by the Buddhas in unison: "Finally, the Bodhisattvas, the Brahmins, and the Generals who often dwell in the Three Lands, are not born and do not die, and go all over the ashram, far from the Two-Fold Realm."
Thập-trụ Tỳ Bà Sa Luận bảo: “Nếu đắm trong địa vị Thanh văn và địa vị Bích-chi Phật thì gọi là Bồ-tát chết, là mất hết thảy cái lợi. Dù đọa vào địa ngục cũng chẳng sợ hãi đến thế. Nếu sa vào địa vị Nhị thừa thì là điều sợ hãi lớn.” Đấy đã nêu rõ ý nghĩa vì sao Bồ-tát cõi Cực Lạc dù đi khắp đạo tràng mà vẫn xa lìa cảnh Nhị thừa, chẳng bị nhiễm trước bởi các pháp của hàng Thanh văn và Bích-chi Phật. Nói cách khác, tuy Bồ-tát hành quyền phương tiện, dạo khắp mười phương, diễn nói các pháp khác nhau thích ứng với căn cơ của từng mỗi chúng sanh, nhưng đối với những chánh hạnh đạo tràng, các Ngài chỉ nương theo một pháp Nhất thừa để rốt ráo đạt tới bờ kia, không có chút khuyết thiếu, cũng không lầm lạc mà bị rơi vào các pháp của hàng Nhị thừa. Vì vậy, chư cổ đức mới thường dạy: “Nhất môn thâm nhập, trường kỳ huân tu, mau chóng đại ngộ, đắc quả Nhất thừa.” Đây mới thật sự là an trụ trong hết thảy các pháp công đức chỉ bẳng một pháp nhất tâm, Bồ-tát cõi Cực Lạc chỉ chuyên tu một pháp môn Niệm Phật Nhất thừa của A Di Đà Phật mà thành tựu được hết thảy công đức chân thật chẳng thể nào nói ra cho nổi, nên Thích Ca Mâu Ni Phật mới khen ngợi rằng: “Ta nay lược nói cõi Cực Lạc kia, chỗ Bồ-tát sinh, chân thật công đức, thảy đều như thế. Nếu nói rộng ra, trăm ngàn vạn kiếp cũng không cùng tận.” Còn những người tu xen tạp là do tâm còn nghi hoặc nơi giáo pháp mình đang tu, hoặc còn bị chìm đắm trong địa vị Thanh văn hay Bích-chi Phật, chưa thể rời xa cảnh Nhị thừa, nên chẳng thể chân thật chuyên tu một môn niệm Phật Nhất thừa của A Di Đà Phật.
The Bhikkhusa Pillar says, "If one is immersed in the status of the Pure Text and the status of the Buddha, it is called the death of the Bodhisattva and the loss of all benefits. Even if he went to hell, he was not so afraid. If one falls into the status of the Duality, it is a great fear." This clearly states the significance of why the Bodhisattva of the Blissful Realm, even though he travels all over the ashram, is still far from the Duality Realm, and is not pre-contaminated by the phenomena of the Pure Text and the Bodhisattva Buddha. In other words, although the Bodhisattva exercises the power of the means, Walking in the ten directions, speaking about the different dharmas adapted to the basis of each sentient being, but for the right paths, they only rely on one Dharma to finally reach the other shore, without the slightest defect, nor do they go astray, but fall into the dharmas of the Two-Fold Ranks. Therefore, the ancient virtues used to teach: "The first discipline penetrates, the long cultivation period, the rapid enlightenment, and the attainment of the Oneness of Righteousness." This is the true abiding place in all the merits, with only one single-minded dharma, the Bodhisattva of the Blissful Realm specializes in only one practice of Amitabha Buddha's One-Fold Buddha-chanting technique, but it is impossible to achieve all the true merits so Shakyamuni Buddha praised him, saying, "I am now saying that the Blissful Realm, where the Bodhisattva is born, is truly meritorious, and it is all like that. Broadly speaking, a hundred thousand thousand lives will not end." As for those who cultivate mixed up, because their minds are still doubting the teachings they are cultivating, or are still immersed in the status of the Pure Text or the Bodhisattva Buddha, they are unable to leave the Duality Realm, so they cannot truly devote themselves to the practice of Amitabha Buddha's One-Fold Buddha-chanting.
Trong phẩm Cần Tu Kiên Trì của kinh Vô Lượng Thọ, Phật bảo Bồ-tát Di Lặc: “Ta nay như lý, mà tuyên nói các pháp môn rộng lớn vi diệu như thế, chỗ khen ngợi của tất cả chư Phật, phú chúc các ông làm đại thủ hộ.” Trong phẩm Thọ Lạc Vô Cực, Phật lại bảo Bồ-tát Di Lặc lần nữa: “Các hàng trời người... Nước Vô Lượng Thọ, Thanh văn Bồ-tát, công đức trí huệ, không thể nói hết. Lại cõi nước ấy, vi diệu an lạc, thanh tịnh như thế, làm sao mà không đủ sức làm lành, niệm Đạo Tự Nhiên?” Như vậy, Di Lặc Bồ-tát đương lai hạ sanh tất nhiên là sẽ tuân theo lời phó chúc của Phật Thích Ca Mâu Ni cũng diễn thuyết kinh Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ.
In the Immeasurable Life Sutra, the Buddha said to the Bodhisattva Maitreya: "I am now like the truth, and I declare such a vast and wonderful dharma, the praise of all the Buddhas, and I wish you to be the great guardians." In the Infinite Happiness, the Buddha said to the Bodhisattva Maitreya again: "The heavens and the people... The Water of Immeasurable Life, the Bodhisattva Text, the merit of wisdom, cannot be said all. Again, in that realm, such a wonderful and peaceful and pure country, how can you not be able to do good, recite the Natural Way?" Thus, Maitreya Bodhisattva who is born in the future will of course obey the vows of Shakyamuni Buddha and also recite the Buddhist sutra of the Mahayana Theory of Immeasurable Life.
Hết thảy sự tướng trong cõi Cực Lạc đều là thật tướng vô lậu, trang nghiêm siêu tuyệt chẳng có khổ não. Thế nào là thật tướng vô lậu? Bát-nhã Tâm Kinh nói: “Sắc bất dị không, không bất dị sắc,” có nghĩa là thật tướng chẳng phải là vô tướng, cũng chẳng phải là bất tướng, mọi thứ hiện ra đều là thật tướng của Trung đạo thì đó chính là thật tướng vô lậu. Mọi tướng hiện hữu trong cõi Cực Lạc đều là tướng vô lậu, tướng Thật tướng của Trung đạo, nên Phật bảo cõi ấy vi diệu, an lạc, thanh tịnh như thế! Vậy mà tại sao chúng sanh chẳng chịu tận hết sức mình làm lành, dùng công đức ấy hồi hướng Tịnh Ðộ để cầu vãng sanh. Phật bảo đại chúng chỉ cần niệm Đạo Tự Nhiên thì sẽ được vãng sanh, pháp này dễ tu như vậy đó, nhưng tại sao chúng sanh chẳng chịu tu? Câu nói “làm sao mà không đủ sức làm lành” của Phật là lời nói khích lệ chúng sanh phải nên xưng danh niệm Phật vì đây chính là điều lành căn bản vượt xa tất cả các điều thiện khác, có thể dùng để hồi hướng vãng sanh, một đời thành Phật.
All the generals in the Blissful realm are innocent, superbly dignified, without suffering. What is a true general? The Prajna Heart Sutra says, "There is no abnormal form, no non-heterogeneous form," which means that the true general is not formless, nor is it immortal, and everything that appears is the true general of the Middle Way, that is, the true general of the Middle Way. All the generals that exist in the realm of Bliss are innocent generals, the true generals of the Middle Way, so the Buddha said that this realm is so wonderful, peaceful, and pure! Yet, why do sentient beings not do their best to do good, and use that merit to dedicate themselves to the Pure Land to pray for rebirth? The Buddha said that as long as people recite the Path of Nature, they will be reborn, this Dharma is so easy to cultivate, but why don't sentient beings cultivate? The Buddha's saying "how can you not be able to do good" is a word that encourages sentient beings to pronounce the name of the Buddha because this is the basic good that goes beyond all other good things, and can be used to dedicate oneself to rebirth and become a Buddha.
“Niệm đạo” gồm có hai nghĩa: Niệm là năng niệm, đạo là điều được niệm. Nay, Phật gọi pháp môn Niệm Phật là Niệm Đạo Tự Nhiên bởi do hai nguyên nhân: Thứ nhất, Di Ðà bổn nguyện là tha lực đại đạo nên đạo này chỉ dùng tha lực của Phật A Di Đà để vượt thẳng ra khỏi tam giới, đạo này chỉ nương vào một câu Phật hiệu để nhất siêu trực nhập vào Nhất thừa Pháp giới, chứng Vô Dư Đại Niết-bàn; vì vậy, Phật gọi pháp môn Niệm Phật là Đạo Tự Nhiên. Thứ hai, đạo này được chứng bởi Tam thừa Vô vi tự nhiên vì thể tánh của nó là vô vi vô tác, nên Phật gọi là Đạo Tự Nhiên. Trực chỉ xưng danh niệm Phật là cội gốc của tất cả các điều lành, cũng là chánh hạnh trong Tịnh tông, hành nhân chỉ cần trực chỉ xưng danh niệm Phật thì tự nhiên thành tựu các đức, tự nhiên được vãng sanh, một đời thành Phật, nên Phật gọi Niệm Phật là Niệm Đạo Tự Nhiên. Rộng làm các điều thiện để hồi hướng cầu vãng sanh cũng là các làm điều lành, nhưng đó chỉ là trợ hạnh, chánh hạnh trong Tịnh tông là “trực chỉ xưng danh niệm Phật.” Vậy, câu Phật nói: “Làm sao mà không đủ sức làm lành, niệm Đạo Tự Nhiên?” đã nêu lên cả chánh hạnh lẫn trợ hạnh, chánh phụ phân minh chính là ưu điểm của Tịnh tông. Nếu người tu Tịnh độ đoạn được hết thảy các lưới nghi, vọng tình rong rủi, thấu rõ chỗ vi diệu của pháp môn này thì trợ hạnh cũng chẳng cần nữa, chỉ còn một hạnh “trực chỉ xưng danh niệm Phật,” đây chính là Nhất Hạnh tam muội của Ngài Văn Thù Sư Lợi Đại sĩ.
"Mindfulness" has two meanings: Mindfulness is thoughtfulness, and Mindfulness is what is remembered. Now, the Buddha calls the practice of chanting the Buddha the Natural Path because of two reasons: First, Amitabha vows to forgive the great way, so this path only uses the power of Amitabha Buddha to go straight out of the three realms, this path only relies on a Buddha's name to enter the Oneness of the Dharma Realm. Nirvana Endurance; Therefore, the Buddha called the practice of chanting the Buddha the Natural Way. Secondly, this path is attested by the Three Natural Infinite Paths because its nature is infinite and non-functional, so the Buddha called it the Natural Way. Directly confessing the name of the Buddha is the source of all good things, it is also the right deeds in the Pure Buddhism, the practitioner only needs to directly confess the name of the Buddha, then he will naturally achieve the virtues, naturally be reborn, and become a Buddha in a lifetime, so the Buddha calls the Chanting of the Buddha the Natural Path. Doing good deeds to dedicate oneself to rebirth is also good deeds, but it is only an auxiliary deed, and the right deeds in the Pure Buddhism are "directly confessing the name of the Buddha." So, the Buddha's saying: "How can we not be able to do good, recite the Natural Way?" has mentioned both right and auxiliary deeds, and the right father is the advantage of Pure Buddhism. If the cultivator of the Pure Land can get rid of all the doubts and delusions, and understand the wonders of this discipline, then there is no need for help, there is only one practice left to "directly confess the name of the Buddha," which is the Three Noble Virtues of Venerable Venjutsu Li.
Trong phẩm Phước Huệ Được Nghe, Phật nói kệ rằng: “Nếu các hữu tình sẽ làm Phật, vượt hạnh Phổ Hiền lên bờ giác, phải thường niệm Phật mà sinh hỷ, ta nói người này thật bạn hiền.” Vượt hạnh Phổ Hiền lên bờ giác ở đây có nghĩa là xả bỏ tất cả các pháp trợ hạnh, chỉ giữ lấy một hạnh trực chỉ xưng danh niệm Phật của Văn Thù, mới có thể nhất siêu trực nhập vào Nhất thừa Nguyện Hải của A Di Đà Phật mà đắc quả vị Bất Thoái Chuyển cho đến Vô thượng Bồ-đề. Văn Thù Sự Lợi dịch nghĩa là Diệu Cát Tường, tức là hoan hỷ, câu “phải thường niệm Phật mà sinh hỷ” hàm chứa ý nghĩa là chỉ giữ lấy Nhất Hạnh tam muội của Ngài Văn Thù Sư Lợi Đại sĩ để thành tựu Căn Bản trí, chẳng cần khổ nhọc xen tạp với bất cứ hạnh môn nào khác. Điều chánh yếu của Nhất Hạnh tam muội hay Niệm Phật tam muội là chỉ dùng tha lực của Phật A Di Đà để vượt thẳng ra khỏi tam giới, chỉ ròng rặt niệm một câu Phật hiệu, thì sự trì tự nhiên trở thành lý trì mà đạt được những điều như vô tác, vô vi, Pháp thân v.v… Trong toàn bộ kinh này, Phật dùng đến tám chữ “tự nhiên” để hiển bày pháp môn Niệm Phật, đó là “niệm đạo tự nhiên,” “nghiêm chỉnh tự nhiên,” “tự nhiên vô vi,” “tự nhiên gìn giữ,” “trong tướng tự nhiên,” “bản nhiên thanh tịnh,” “dung hóa tự nhiên,” “tự nhiên dắt dẫn theo.” Đấy đủ cho chúng ta thấy hai chữ “tự nhiên” rất trọng yếu vì đó chính là lý thể của vô tác, vô vi và cũng là bản thể của Phật Pháp thân. Vậy, hai chữ “tự nhiên” ở đây có nghĩa là pháp vốn là tự nhiên như vậy, Tự tánh vốn tự nhiên thanh tịnh; cho nên, chỉ cần tự nhiên gìn giữ cái đạo tự nhiên vô vi ấy, thì tự nhiên sẽ chứng nhập vào Biển Nhất Thừa của A Di Đà Phật, chớ chẳng phải do tạo tác mà thành lập.
In the Blessing of Wisdom, the Buddha said: "If sentient beings are going to become Buddhas, cross the virtues of the Wisdom to the edge of enlightenment, and must often recite the Buddha and rejoice, I say that this person is really a good friend." To transcend the virtues of Wisdom here means to renounce all the auxiliary practices, and only to hold on to one virtue that only confesses the name of the Buddha of Van Thu, only to be able to enter the Oneness of Prayer of Amitabha Buddha and attain the status of Immortality until the Supreme Bodhisattva reaches the Supreme Bodhisattva. Translated as Dieu Cat Tuong, that is, joy, the phrase "must often recite the Buddha to be joyful" implies that only holding on to the Three Noble Virtues of Venerable Venjutsu Shi Li the Great Master in order to achieve the Fundamental Wisdom, without the need to interfere with any other practices. The main thing of the Three Noble Actions or the Three Noble Buddha Recitations is that by using the power of Amitabha Buddha to go straight beyond the three realms, and by simply reciting a Buddha's name, then the natural perseverance becomes the rationality that achieves such things as non-action, non-existence, Dharma body, etc. In this entire sutra, the Buddha uses eight words "nature" to express the practice of chanting the Buddha, which are "natural chanting," "natural seriousness," "infinite nature," "nature preserved," "in nature," "pure nature," "natural reconciliation," and "nature leads." This is enough to show us that the two words "nature" are very important because they are the reason of the void is immeasurable, and is also the essence of the Buddha's Dharma body. So, the two words "nature" here mean that the dharma is inherently natural, the nature is inherently pure; Therefore, as long as nature preserves this immeasurable natural path, it will naturally enter the Amitabha Buddha's Sea of Oneness, not created by creation.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói: “Tự tánh vốn sẵn thanh tịnh.” “Tự” là Tự tánh, “thanh tịnh” là bản thể tự nhiên của Tự tánh. Vậy, hai chữ “tự nhiên” bao hàm ý nghĩa Tự tánh bản nhiên thanh tịnh cũng chính là Chân như, Thật tướng. Do đó, trì danh hiệu Phật chính là niệm Thật tướng vô vi vô tác, là niệm Tự tánh vốn sẵn thanh tịnh, là con đường trang nghiêm để nhất siêu trực nhập. Con đường như vậy, pháp tánh của nó vốn sẵn là tự nhiên. Những điều như vậy đều là để nói lên ý chỉ chánh yếu của Trung đạo, hành nhân nương theo Tín-Nguyện-Trì danh, nương vào tha lực đại đạo của A Đ Đà Phật, liền được vãng sanh Cực Lạc, đắc quả vị Bất Thoái Chuyển cho đến Vô thượng Bồ-đề. Tất cả những sự vi diệu của pháp môn Niệm Phật đều thuận theo bản thể tự nhiên của Tự tánh, nên Phật gọi đạo này là Đạo Tự Nhiên!
The Ling Yan Sutra said, "Nature is inherently pure." "Self" is Self-nature, "purity" is the natural essence of Self-Nature. Therefore, the two words "nature" imply the meaning of the pure nature of nature, which is also the True Nature, the True General. Therefore, the recitation of the Buddha's title is the recitation of the True Form, the inherently pure Self-Nature, and the most dignified path to transcendence. Such a path, its dharma nature is inherently natural. All of these things are to express the main intention of the Middle Way, the practitioner who follows the Faith-Vow-Retention of the Name, relying on the power of the Great Path of Adha Buddha, is immediately reborn in Bliss, attaining the status of Non-Resignation to the Supreme Bodhisattva. All the wonders of the Buddha's Meditation are in accordance with the nature of Nature, so the Buddha calls this Path the Natural Way!