I. Bàn về hạnh phúc
I. Talking about happiness
Mọi hoạt động có ý thức của con người đều nhằm mục đích nào đó. Đạt được mục đích thì phát sinh một cảm nhận dễ chịu, thỏa ý. Qua thực tế này, người ta bảo rằng sống hành động là nhằm mưu cầu hạnh phúc. Giáo dục cũng như mọi loại hình hoạt động tích cực khác đều hướng đến mục đích là làm cho con người vươn lên đến chỗ hoàn thiện, làm cho con người phát triển theo chiều hướng tốt đẹp hơn và từ đó cộng đồng xã hội được cái tiến. Nói chung, giáo dục cũng có mục tiêu là hạnh phúc cho nhân loại.
Every conscious human activity has a purpose. Achieving the goal gives rise to a pleasant and satisfying feeling. Through this fact, it is said that living and acting is the pursuit of happiness. Education, like all other types of active activities, aims to make people rise to perfection, make people develop in a better direction and from there the social community can be improved. In general, education also has the goal of happiness for humanity.
Thế nhưng, hạnh phúc là gì? Thật khó có một định nghĩa rõ ràng về hạnh phúc, vì người ta không quan niệm hạnh phúc như nhau, không có tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá một hành động, một sự việc mang lại hạnh phúc ở mức độ nào, thậm chí có khi không xác định được đấy là hạnh phúc hay khổ đau.
However, what is happiness? It is difficult to have a clear definition of happiness, because people do not conceptualize happiness equally, there is no specific standard to judge the extent to which an action or an event brings happiness, and sometimes it is not even possible to determine whether it is happiness or suffering.
Hạnh phúc thường được định nghĩa một cách đơn giản là sự thỏa mãn vật chất và tinh thần, thế nhưng thế nào là thỏa mãn vật chất, thỏa mãn tinh thần lại là một vấn đề khác. Có nhiều tiền bạc, có nhiều tiện nghi là hạnh phúc, hay có danh tiếng được ca ngợi là hạnh phúc, hay có con cái hiếu thuận là hạnh phúc? Thực tế thì các quan niệm về hạnh phúc đều không rõ ràng, có thể gây tranh cãi vì quá phụ thuộc vào cá tính, hoàn cảnh của mỗi người.
Happiness is often defined simply as material and spiritual satisfaction, but what is material satisfaction and spiritual satisfaction is another matter. Is having a lot of money, having a lot of amenities being happy, or having a reputation that is praised as being happy, or having filial children is happiness? In fact, the concepts of happiness are unclear and can be controversial because they depend too much on the personality and circumstances of each person.
Phật giáo quan niệm đời là khổ. Điều này có nghĩa là Phật giáo cho rằng hạnh phúc hay giá trị tích cực là những gì làm vơi khổ, giải thoát khỏi cái khổ. Do đó, mục đích của Phật giáo, của giáo dục Phật giáo là giải thoát khỏi khổ. Tiêu chuẩn để đánh giá một hành động là mức độ giải thoát mà hành động đó mang lại. Giải thoát có nhiều cấp độ như giải thoát khỏi cái đói, cái nghèo, sự áp bức…cho đến sự giải thoát tối hậu là Niết-bàn.
Buddhism conceives of life as suffering. This means that Buddhism considers happiness or positive values to be what alleviates suffering, liberates it from suffering. Therefore, the purpose of Buddhism, of Buddhist education is liberation from suffering. The criterion for evaluating an action is the level of relief it brings. Liberation has many levels such as liberation from hunger, poverty, oppression, etc. to the ultimate liberation, which is Nirvana.
II. Mục tiêu của giáo dục Phật giáo
II. Objectives of Buddhist education
Lịch sử đã ghi nhận biết bao nền văn minh đã sụp đổ vì những mục tiêu sai lạc trong phương hướng phát triển. Chiến tranh, nghèo đó, suy thoái đạo đức, cạn kiệt môi trường sống… là kết quả của những sai lạc ấy. Giáo dục phải chia sẻ trách nhiệm với xã hội trước những hậu quả gây khổ đau như vậy.
History has recorded how many civilizations have collapsed because of the wrong goals in the direction of development. War, poverty, moral degradation, depletion of living environment... as a result of those mistakes. Education must share responsibility with society for such suffering consequences.
Gần đây, người ta thường bảo mục tiêu cụ thể và trước mắt của giáo dục là đào tạo những con người mới, những con người toàn diện với những tiêu chuẩn mang tính khoa học và đạo đức hiện đại, những con người phù hợp với xã hội mới và có khả năng làm cho xã hội mới phát triển. Mặt khác, giáo dục phải đào tạo những con người thuần túy chuyên môn theo sự phân công của xã hội. Một bên là những con người gần như siêu nhân, một bên là những con người gần như là người máy. Trong khi đó không có gì bảo đảm là xã hội đang phát triển theo chiều hướng đúng đắn. Có nhiều dấu hiệu cho thấy rằng con người thời nay không hạnh phúc hơn con người thời xưa nếu chúng ta không cho rằng nhiều tiện nghi vật chất là cốt lõi của hạnh phúc. Và nếu thế thì mẫu người mới của xã hội mới cũng chỉ là phản ảnh của một quan điểm nhất thời.
Recently, it has often been said that the specific and immediate goal of education is to train new people, well-rounded people with modern scientific and ethical standards, people who are suitable for the new society and capable of making the new society develop. On the other hand, education must train purely professional people according to the assignment of society. On one side are almost superhuman beings, on the other side are almost robotic humans. Meanwhile, there is no guarantee that society is developing in the right direction. There are many indications that people today are no happier than people in the past if we do not consider many material comforts to be at the core of happiness. And if so, then the new type of society is only a reflection of a transient viewpoint.
Giáo dục Phật giáo hướng đến mục đích hay mục tiêu tối hậu là cứu cánh giải thoát khỏi khổ đau, là Niết-bàn. Mẫu người lý tưởng tối hậu mà giáo dục Phật giáo muốn con người vươn tới là Phật. Học tập, tu hành là để làm Phật. Kế đến, con người lý tưởng mà giáo dục Phật giáo cần lấy khuôn mẫu để đào tạo là chư Bồ-tát, chư Thánh tăng đã chứng đạo, chư Tổ sư mà trình độ giải thoát đã được ghi nhận.
Buddhist education aims at the ultimate goal or goal of liberation from suffering, which is Nirvana. The ultimate ideal type of person that Buddhist education wants people to reach is the Buddha. Studying and cultivating is to become a Buddha. Next, the ideal person that Buddhist education needs to take a model for training is the Bodhisattvas, the holy monks who have been preached, and the Ancestors whose level of liberation has been recorded.
Chư Phật và chư Thánh giả nói trên là những mẫu người lý tưởng của Phật giáo và mục tiêu của giáo dục Phật giáo là đào tạo những con người có khả năng học tập và phát triển tâm linh cao để đạt đến trình độ giải thoát như những mẫu người lý tưởng ấy. Mặt khác, mục tiêu phải được hiểu là những điểm cuối của những chặng đường mà các đối tượng của giáo dục (người học) phải đạt đến trên con đường dài có nhiều chặng cần phải vượt qua để đạt được lý tưởng tối hậu. Do đó, giáo dục tùy hoàn cảnh tùy trình độ từng cá nhân mà phải có những mục tiêu trước mắt khác nhau. Đấy là những mẫu người chủ yếu là những Tăng Ni tài đức có khả năng tu tập, chứng đạt một trình độ tâm linh cao cả va có khả năng giảng dạy, hướng dẫn các Tăng Ni khác và các cư sĩ Phật tử trong sinh hoạt hàng ngày, tạo một xã hội khang lạc, vui tươi.
The aforementioned Buddhas and Saints are the ideal types of Buddhism and the goal of Buddhist education is to train people with high learning and spiritual development to attain the same level of liberation as those ideal types. On the other hand, goals must be understood as the ends of the stages that the objects of education (learners) must reach on a long road with many stages that need to be overcome to achieve the ultimate ideal. Therefore, education depends on the situation and the level of each individual, but must have different immediate goals. These are the main types of people who are talented monks and nuns who are able to practice, attain a high spiritual level and are able to teach and guide other monks and nuns and lay Buddhists in their daily activities, creating a happy society. playful.
Phật giáo tuyên bố đời là khổ nên mọi hoạt động của Phật giáo, đặc biệt là giáo dục Phật giáo, đều lấy cuộc đời làm đối tượng, lấy những con người đang sống trong tập thể xã hội làm đối tượng. Cho nên, mẫu người đào tạo của Phật giáo trong mọi thời đại chính là những con người thâm hiểu và mang ý nguyện tu tập theo giáo lý của Đức Phật, đồng thời người ấy lại phải thích nghi với xã hội, với những kiến thức kỹ năng hiện đại.
Buddhism declares that life is suffering, so all activities of Buddhism, especially Buddhist education, take life as the object, and the people living in the social collective as the object. Therefore, the type of Buddhist trainers in all times are people who understand and have the will to practice according to the Buddha's teachings, and at the same time, they have to adapt to society, with modern knowledge and skills.
III. Nhận xét về “con người toàn diện”
III. Comments on the "Whole Person"
Như đã nói trước kia, “con người toàn diện”hình như chỉ là khẩu hiệu về mục tiêu đào tạo của giáo dục. “Con người toàn diện”trong ý nghĩa chung chung là con người được đào tạo về đủ mọi phương diện: đức, trí, thể, mỹ, lao. Năm phương diện này tạo thành nội dung giáo dục mà hơn một thế kỷ qua, các học đường thường đặt thành những mục tiêu để hướng đến. Tất nhiên, trên thực tế, đây chỉ là một mẫu người khá thích nghi với sự phát triển của xã hội. Ngoài ra, người ta còn nói đến “con người toàn diện”, đỉnh cao của con người toàn diện, xuất sắc về mọi phương diện. Dĩ nhiên, đây chỉ là một ước mơ của giáo dục khó có thể thực hiện khi mà các ngành khoa học, kỹ thuật phát triển lớn mạnh, đa dạng và chuyên sâu. Sự phát triển này đòi hỏi mẫu người chuyên môn và khiến một con người, với một tài năng có giới hạn,chỉ có thể chuyên môn về một ngành học nào đó mà thôi.
As I said before, "the whole person" seems to be just a slogan about the training goal of education. "Whole man" in the general sense is a person who is trained in all aspects: virtue, intellect, body, beauty, and labor. These five aspects constitute the educational content that over the past century, schools have often set as goals to aim for. Of course, in reality, this is just a type of person who is quite adapted to the development of society. In addition, people also talk about "comprehensive man", the pinnacle of a well-rounded person, excellent in all aspects. Of course, this is just a dream of education that is difficult to realize when the science and technology disciplines develop strongly, diversely and intensively. This development requires specialized human beings and makes a human being, with a limited talent, able to specialize only in a certain discipline.
Con người toàn diện, theo Phật giáo, phải được hiểu là con người được giáo dục đào tạo và tự đào tạođể đúng là con người tự bảnthân có hạnh phúc thật sự và có khả năng tạo hạnh phúc cho người khác.
The whole person, according to Buddhism, must be understood as a person who is educated, trained, and trained by himself, so that he himself is truly happy and capable of creating happiness for others.
Do đó giáo dục Phật giáo phải nhằm tới đối tượng là con người đúng như con người vói hai phương diện: con người tự thân và con người xã hội. Đó là con người với nhân cách người có khả năng giải thoát tự thân để vượt qua những ràng buộc, những khổ đau, và con người trong những mối liên hệ với tự nhiên và xã hội, trong thế giới duyên sinh, vô thường, khổ, không, vô ngã. Đó là ý nghĩa của con người toàn diện trong giáo dục Phật giáo.
Therefore, Buddhist education must be aimed at human beings in two aspects: the human being himself and the social person. It is a human being with a personality who is capable of liberating himself in order to overcome constraints, sufferings, and human beings in relation to nature and society, in the world of dependent arising, impermanence, suffering, emptiness, selflessness. That is what it means to be a whole person in Buddhist education.
III. Kết luận – mục tiêu giáo dục là một sự chuyển hóa
III. Conclusion – the goal of education is a transformation
Kinh điển Phật giáo thường dùng từ giáo hóa để thay cho giáo dục. Giáo hóa là từ Hán-Việt đươc dịch từ từ “paripae” trong Phạn ngữ. Các sớ luận thường giảng rằng ‘giáo’ là lấy thiện pháp mà dạy người ta, ‘hóa’ là làm cho người ta xa rời ác pháp. Kinh dạy: “Chuyển pháp luân vô thượng mà giáo hóa chư Bồ-tát, giáo hóa, an lập vô số chúng sinh, khiến họ an trú vào đạo vô thượng, chuyển ác thành thiện, chuyển phàm hóa thánh”. Rải rác trong các kinh Đại bổn của Trường A Hàm, Tăng Nhất A Hàm quyển 1, Pháp hoa quyển 4…, ta còn thấy các từ thay cho từ giáo dục như khai hóa, nhiếp hóa, khuyến hóa, thí hóa.
Buddhist scriptures often use the word education instead of education. Teaching is a Sino-Vietnamese word translated from the word "paripae" in Sanskrit. The scholars often preach that 'teaching' is to teach people good dharma, and 'transformation' is to make people away from evil dharma. The sutra teaches: "Transform the supreme wheel and educate the bodhisattvas, educate and settle countless sentient beings, make them dwell in the supreme way, transform evil into good, and transform human beings into holiness." Scattered in the Great Sutras of the Aham School, the 1st Sangha Ham, the Dharma Flower Book 4, etc., we also see words instead of the word education such as enlightenment, enlightenment, encouragement, and experimentation.
Trong những từ trên, chữ ‘hóa’ là chữ trọng tâm. Nó có nghĩa là biến đổi, làm cho trở thành, hóa thành. Mục tiêu của giáo dục, như đã được từ ‘hóa’ gợi lên, là làm cho biến chuyển; trở thành, chuyển hóa như thành ngữ “chuyển phàm hóa thánh”. Đôi khi, từ ‘hóa’ còn chỉ cho việc tạo ra sự nhảy vọt, sự đột chuyển (paravriti) như một số kinh, luận chủ trương và được thiền học triển khai. Sự đột chuyển này gọi là “đốn ngộ”.
In the above words, the word 'hoa' is the central word. It means to transform, to become, to become. The goal of education, as the word 'chemistry' suggests, is to make a difference; become, transform as the idiom "transform the holy human". Sometimes, the word 'transformation' also refers to the creation of leaps and balances (paravriti) as some sutras and treatises and are implemented by meditation. This mutation is called "enlightenment".
Như vậy, mục tiêu của giáo dục Phật giáo bao giờ cũng là một sự chuyển hóa dù hàm ý tiệm tiến hay chớp nhoáng. Và, trong một chuỗi mục tiêu liên tục áp dụng vào đối tượng giáo dục, giáo dục Phật giáo luôn luôn sinh động, tràn trề sức sống và đầy hiệu năng.
Thus, the goal of Buddhist education is always a transformation, whether it implies progress or fleeting. And, in a series of goals that are constantly applied to the object of education, Buddhist education is always vivid, full of vitality and full of efficiency.