Giữ tâm thanh tịnh, ý chí vững bền thì có thể hiểu thấu lẽ đạo, như lau chùi tấm gương sạch hết dơ bẩn, tự nhiên được sáng trong.Kinh Bốn mươi hai chương
Để sống hạnh phúc bạn cần rất ít, và tất cả đều sẵn có trong chính bạn, trong phương cách suy nghĩ của bạn. (Very little is needed to make a happy life; it is all within yourself, in your way of thinking.)Marcus Aurelius
Ngủ dậy muộn là hoang phí một ngày;tuổi trẻ không nỗ lực học tập là hoang phí một đời.Sưu tầm
Hạnh phúc đích thực không quá đắt, nhưng chúng ta phải trả giá quá nhiều cho những thứ ta lầm tưởng là hạnh phúc. (Real happiness is cheap enough, yet how dearly we pay for its counterfeit.)Hosea Ballou
Bạn có biết là những người thành đạt hơn bạn vẫn đang cố gắng nhiều hơn cả bạn?Sưu tầm
Nếu muốn tỏa sáng trong tương lai, bạn phải lấp lánh từ hôm nay.Sưu tầm
Chúng ta có lỗi về những điều tốt mà ta đã không làm. (Every man is guilty of all the good he did not do.)Voltaire
Chớ khinh tội nhỏ, cho rằng không hại; giọt nước tuy nhỏ, dần đầy hồ to! (Do not belittle any small evil and say that no ill comes about therefrom. Small is a drop of water, yet it fills a big vessel.)Kinh Đại Bát Niết-bàn
Vui thay, chúng ta sống, Không hận, giữa hận thù! Giữa những người thù hận, Ta sống, không hận thù!Kinh Pháp Cú (Kệ số 197)
Nhiệm vụ của con người chúng ta là phải tự giải thoát chính mình bằng cách mở rộng tình thương đến với muôn loài cũng như toàn bộ thiên nhiên tươi đẹp. (Our task must be to free ourselves by widening our circle of compassion to embrace all living creatures and the whole of nature and its beauty.)Albert Einstein

Trang chủ »» Danh mục »» Rộng Mở Tâm Hồn »» Tây Vực Ký »» Xem đối chiếu Anh Việt: Quyển 11 »»

Tây Vực Ký
»» Xem đối chiếu Anh Việt: Quyển 11

(Lượt xem: 2.099)
Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục  Vietnamese || English || Tải về bảng song ngữ


       

Điều chỉnh font chữ:

Quyển 11

Fascicle XI

QUYỂN 11 - (23 nước)
Fascicle XI - Twenty-three Countries, - from Simhala to Varnu
● Nước Tăng Già La ● Nước Đồ-kiến-na-bổ-la ● Nước Ma-ha-lạt-sá ● Nước Bạt-lộc-yết-chiếp-bà ● Nước Ma-lạp-bà ● Nước A-trá-ly ● Nước Khế-trá ● Nước Phạt-lạp-tỳ ● Nước A-nan-đà-bổ-la ● Nước Tô-lạt-sá ● Nước Cù-chiết-la ● Nước Ổ-xà-diễn-na ● Nước Trịch-chỉ-đà ● Nước Ma-ê-thấp-phạt-la-bổ-la ● Nước Tín-độ ● Nước Mậu-la-tam-bộ-lô ● Nước Bát-phạt-đa ● Nước A-điểm-bà-sí-la ● Nước Lang-yết-la ● Nước Ba-lạt-tư ● Nước Tý-đa-thế-la ● Nước A-bổn-đồ ● Nước Phạt-lạt-noa

1. Nước Tăng-già-la

Nước Tăng-già-la chu vi khoảng 2.300 km. Chu vi kinh thành khoảng 13 km. Đất đai màu mỡ, khí hậu ấm nóng, lúa má gieo trồng theo thời vụ, có nhiều cây ăn trái đủ loại. Dân cư đông đúc, cuộc sống sung túc giàu có. Người dân thân hình thấp, màu da đen, tánh tình mạnh bạo nóng nảy, hiếu học, kính trọng người đức hạnh, siêng làm việc phước thiện.
The country of Simhala is more than seven thousand li in circuit and its 932b capital city is over forty li in circuit. The soil is fertile and the climate is warm and hot. The crops are sown and planted in the proper seasons and flowers and fruit are plentiful. The country is densely populated with wealthy families. The people are short in stature and black in complexion with a rustic and fiery disposition, but they are fond of learning, advocate virtue, and promote the performance of good deeds in order to gain bliss.
Nước này [thuở xưa vốn] là một hòn đảo nhỏ, có nhiều trân bảo quý giá, là nơi cư ngụ của quỷ thần. Về sau, ở miền Nam Ấn có một vị quốc vương gả con gái cho vua nước bên cạnh, chọn ngày lành tháng tốt đưa cô dâu về nhà chồng, giữa đường gặp sư tử, quân hộ vệ trốn chạy hết, bỏ công chúa lại. Công chúa ngồi trong kiệu, đành lòng chờ chết.
This country is a precious island producing many valuable gems; it was originally occupied by spirits and deities. The daughter of a king of South India was once betrothed to a neighboring country. When the girl was sent to get married on an auspicious day she encountered a lion on the way. when the guards deserted her and fled the girl remained in her palanquin, awaiting certain death,
Bấy giờ, chúa sư tử cõng công chúa trên lưng mà đi, vào sâu trong vùng rừng núi, đưa vào trong một cái hang tối, rồi ngày ngày bắt hươu nai, hái trái cây rừng mang về làm thức ăn nuôi công chúa. Trải qua nhiều năm tháng, công chúa mang thai rồi sinh ra một đứa con trai, một đứa con gái, hình thể giống con người nhưng mang tánh nết của loài thú. Đứa con trai dần dần trưởng thành, sức mạnh chống được mãnh thú. Đến năm 20 tuổi mới phát triển trí hiểu biết của con người, liền hỏi mẹ rằng: “Như con là thuộc giống gì đây? Cha là dã thú, mẹ lại là người, đã không cùng chủng loại, tại sao [hai người] lại kết hôn với nhau?”
but the lion king carried her away to the remote mountains and provided her with venison and fruit daily. After some years she gave birth to a son and a daughter with human bodies but of animal extraction. When the boy grew up he was so strong that he could wrestle with a fierce animal. At the age of twenty his human intelligence was developed and he said to his mother, “What am I, with an animal as my father and a human being as my mother? Since you are not of the same genus, how could you have lived 932c with him?”
Người mẹ thuật lại chuyện xưa cho con nghe. Đứa con nói: “Người và thú hai loài khác biệt, chúng ta nên mau mau trốn đi thôi.” Người mẹ nói: “Trước đây mẹ cũng đã từng trốn chạy nhưng không thành công.”
His mother then told him about the past and he said, “Human beings and animals go on different ways. We should escape at once.” His mother said, “I have tried to escape but I have failed in the attempt.”
Đứa con trai sau đó thường theo cha sư tử lên núi vượt đèo, cố ý quan sát kỹ những nơi [chúa sư tử] thường đi qua hoặc dừng nghỉ, nhằm tính chuyện trốn chạy. [Cuối cùng,] thừa lúc chúa sư tử đi xa liền cõng mẹ và em gái chạy nhanh ra khỏi núi rừng, tìm về nơi thôn xóm có người.
Her son then followed the tracks of his lion-father over mountains and ridges to find a way to flee from the calamity. When his father was away he carried his mother and sister down to the region of human habitation.
Người mẹ dặn: “Các con phải cẩn thận giữ kín, không được nói ra nguồn cội của mình. Bởi khi mọi người biết được, chúng ta sẽ bị khinh bỉ.”
His mother said, “You two should be prudent and not say anything about our origins. If the people get wind of it they will despise us.”
Rồi [ba mẹ con cùng] trở về quê cũ của người mẹ, nhưng vương tộc thuở trước không người nối dõi, tông môn họ hàng nay đã mất hết chẳng còn ai, đành nương nhờ người trong thôn ấp. Mọi người hỏi rằng: “Các người là người nước nào?”
Then she and her children proceeded to her father’s country, but it was no longer under the rule of her family and her relatives had all gone. So she took lodging in the house of a townsman, who asked her, “Where do you come from?”
Người mẹ đáp: “Tôi vốn người nước này, lưu lạc sang xứ khác, nay mẹ con đùm bọc nhau quay về quê cũ.” Mọi người nghe vậy đều thương xót, cùng nhau góp sức giúp đỡ.
She said, “I am a native of this country and have been wandering about in alien lands without a home. I have come back with my children to our homeland.” The people felt sorry for them and provided them with sustenance.
Khi ấy, chúa sư tử quay về không thấy hai đứa con, lòng thương nhớ nên nổi cơn giận dữ, liền ra khỏi khe núi, tìm đến thôn xóm, gầm thét chấn động, giết người hại vật, tàn sát các loài khác. Người trong thôn xóm vừa đi ra liền bị sư tử giết chết. Mọi người phải đánh trống, thổi tù và, trang bị cung nỏ, giáo mác, họp nhau đi thành từng đoàn, như vậy mới không bị hại.
When the lion king came back and found his dwelling empty he was enraged by the loss of his family. He went out of the valley to roam about the villages and towns, roaring with fury, wreaking havoc for the people and causing harm to living creatures. When the townsfolk came out he would catch and kill them. They beat drums, blew conches, armed themselves with crossbows and spears, and traveled in groups to avoid being injured.
Đức vua khi ấy sợ lòng dân không yên, liền phái các thợ săn đến, lệnh phải bắt cho được sư tử. Đích thân nhà vua cũng dẫn hàng vạn quân đến, có đủ bốn binh chủng, vây kín quanh rừng, ngăn giữ khe núi. Nhưng khi sư tử gầm rống lên thì quân binh đều kinh sợ. Vua thấy không thể nào bắt được sư tử, liền bố cáo khắp nơi chiêu mộ dũng sĩ, ban lệnh rằng nếu ai bắt được sư tử trừ hại cho cả nước thì sẽ trọng thưởng và biểu dương công trạng.
Fearing that the situation might jeopardize his sovereignty, the king sent hunters to caphire the lion, and the king himself, commanding myriads of soldiers of the four divisions of his hoops, lay in ambush in the dense forests and covered the valleys. But the lion roared furiously and both men and horses fled in terror. Having failed to seize the lion the king posted a proclamation, saying that anyone who could caphire the lion and rid the country of him would be handsomely rewarded in appreciation of his merit. 
Khi ấy, đứa con trai [của sư tử] nghe được lệnh vua, liền nói với mẹ: “Nhà ta nghèo khổ quá rồi, nay con nên ra đáp lời chiêu mộ của vua, nếu như được thưởng có thể lấy đó mà sinh sống.”
Hearing the king’s order, the lion’s son said to his mother, “We are suffering very much from hunger and cold. I should respond to the king’s call and perhaps I can earn something with which to sustain you.”
Người mẹ nói: “Con không thể nói như vậy được. Tuy là súc sinh nhưng vẫn là cha của con, sao có thể vì nghèo khổ khó khăn mà nghĩ đến chuyện ngỗ nghịch giết cha?”
His mother said, “No! You must not say that. Although he is an animal he is still your father. How can we do him harm simply because we are living a hard life?”
Đứa con nói: “Người và súc vật là hai loài khác nhau thì lễ nghĩa ở chỗ nào? Đã dứt tình trốn đi thì trong lòng còn mong đợi gì nữa?”
The son said, “Humans and animals belong to different species so what principle of morality exists between the two? Since we have departed from him, what may we anticipate in our minds?”
Nói rồi liền giấu con dao nhỏ trong tay áo, đi đến chỗ nhận lời chiêu mộ. Lúc ấy có muôn ngàn người ngựa rầm rộ quy tụ đến, sư tử trấn giữ trong rừng, không ai dám đến gần. Đứa con tiến lên phía trước, chúa sư tử liền phủ phục, tỏ vẻ thân ái, không còn giận dữ, nhân đó đến thật gần, thừa thế đâm sâu dao nhọn vào bụng sư tử. Sư tử vẫn giữ lòng thương yêu, không chút sân hận. Đến lúc bị rạch bụng vẫn cam lòng chịu đau rồi chết.
He put a dagger into his sleeve and went to answer the call.
At that time hundreds and thousands of men and horses were assembled but no one dared to approach the lion, who was crouching in the forest. When his son came into his presence, howver, he became tame and docile and his parental affection appeased his anger. His son then stabbed him in the abdomen with the dagger. Even then the lion remained affectionate to his son and had no feeling of resentment. His abdomen burst open and he died in pain.
Vua [nhìn thấy như vậy] nói: “Người này là ai mà có thể làm được chuyện lạ lùng đến thế!” Liền đem lợi lộc ra dụ dỗ, lại dùng uy vũ dọa dẫm, cố gạn hỏi cho ra tung tích.
The king said, “What sort of person is this who has done such a strange thing?” Enticed by promises of a reward and threatened by severe punishment,
Cuối cùng chàng trai kể ra hết mọi việc. Vua [nghe xong] nói: “Đồ ngỗ nghịch! Đến cha mình ngươi còn giết hại được, huống chi là người ngoài. Tính khí súc sinh khó mà trừ bỏ, lòng hung bạo dễ ra tay. Trừ hại cho dân có công lớn, nhưng giết cha là đại nghịch. Nay cho trọng thưởng để đền công, nhưng tội đại nghịch phải đày đi xa để trừng phạt. Như vậy mới không phạm vào quốc pháp, mà lời hứa [trọng thưởng] của vua cũng không sai.”
the lion’s son told the whole story in full detail.
The king said, “How treacherous you are! If you can kill even your own father, what about unrelated people? A person of animal blood is hard to tame and his brutal sentiment is easily aroused. You have done a meritorious deed by ridding the people of the animal but, because you killed your father, your heart is treacherous indeed. I shall grant you a rich reward as payment for your merit but I will banish you to a far-off place as punishment for your cruelty. In this way the code of the country is maintained and I do not break my promise.”
Liền [ra lệnh] chuẩn bị hai chiếc thuyền lớn với thật nhiều lương khô. Người mẹ ở lại nước này, được chu cấp để thưởng công. Hai người con trai và con gái, mỗi người phải lên một chiếc thuyền, thả trôi lênh đênh trên biển, mặc cho sóng gió đưa đi.
Then two big ships were prepared and furnished with a large amount of food and rations. The mother was kept in this country and well looked after in reward of her merit, while her son and daughter each embarked on a different ship, drifting away with the waves.
Thuyền của người con trai sau đó trôi dạt vào hòn đảo nhiều trân bảo này, nhìn thấy có nhiều trân châu ngọc quý nên liền dừng lại cư ngụ ở đây. Về sau có người thương nhân đi tìm trân bảo cũng ghé vào đây, người con trai liền giết chết người thương nhân ấy nhưng để lại đứa con gái, [lấy làm vợ]. Từ đó sinh ra nhiều con cháu, dần dần về sau trở nên đông đúc, mới lập thành triều đình có vua quan, có tôn ti trật tự, xây dựng kinh thành, lập thành thôn ấp, chiếm cứ cương thổ, xác lập biên giới nước này. Vì tổ tiên họ từng bắt diệt sư tử nên lấy quốc hiệu là Chấp Sư Tử để ghi nhớ điều đó.
The son’s ship sailed over the sea to this precious island, where he saw plenty of pearls and gems, and so he settled down here. When some merchants later came to the island to collect gems, he killed the chief of the merchants and kept his daughter. The populace multiplied gradually as a large number of offspring were produced. They then established the system of king and subjects in superior and inferior positions. They constructed a capital city, built up villages and towns, and occupied the territory of the country. Because their forefather was the seizer of a lion, they named the country by that title in commemoration of the merit of their origins.
Về chiếc thuyền của người con gái thì trôi dạt đến miền tây nước Ba-lạt-tư, bị quỷ thần ám mị, sau sinh ra toàn con gái, nay chính là nước Tây Đại Nữ.
The daughter’s ship floated to the west of Parsa, where she was bewitched by a spirit and gave birth to several daughters, who then formed what is now called the Women’s Country in the West.
Cho nên người dân nước [Chấp] Sư Tử hình dáng lùn thấp, da đen, gò má vuông, trán rộng, tánh tình nóng nảy, đó là do dòng dõi của mãnh thú, có rất nhiều người dũng mãnh.
The inhabitants of the country of Simhala are short in stature and black in complexion with square cheeks and big foreheads. They are rustic and fiery by temperament and cruel and malignant in disposition, features inherited from the fierce animal. Therefore the people are mostly brave and stout.
Đó là một thuyết [về khởi nguyên nước này], nhưng trong các bản văn Phật giáo thì ghi chép một câu chuyện khác.
This is one of the traditions.
According to the Buddhist tradition, it is said that
Thuở xưa, hòn đảo nhiều trân bảo này có một tòa thành bằng sắt, là nơi cư ngụ của 500 nữ la-sát. Trên thành có lầu cao, trên đó cắm hai cây cờ, một tốt một xấu, để báo trước những việc tốt xấu. Khi có việc tốt thì cây cờ tốt dao dộng, ngược lại khi có việc xấu thì cây cờ xấu sẽ dao động. [Bọn nữ la-sát này] thường chờ lúc các thương nhân đến đảo này tìm trân bảo, liền biến hình thành mỹ nữ, mang hương hoa, tấu âm nhạc ra đón tiếp hỏi han, dẫn dụ họ đi vào bên trong thành bằng sắt, bày yến tiệc vui vầy, rồi bắt nhốt hết vào trong lồng sắt, để ăn thịt dần dần.
in the great iron city of this precious island there lived five hundred raksasis (female demons). On the tower over the city gate two pennants were hoisted high to signify good or ill luck. When something good was going to happen the auspicious pennant fluttered in the air, and when something evil was going to occur the inauspicious one quivered. The raksasis always waited for merchants coming to the precious island; they would change themselves into beautiful maidens to welcome and console the travelers with fragrant flowers and music and lure them into the iron city. After the merriment and feasting were over the merchants would be confined in an iron prison to be eventually eaten up.
Lúc bấy giờ ở châu Thiệm-bộ có một thương chủ tên là Tăng-già, có người con trai tên Tăng-già-la. Người cha đã già nên con trai thay cha quán xuyến việc nhà. Một hôm, [Tăng-già-la] cùng với 500 thương nhân ra biển tìm trân bảo, gặp sóng gió trôi dạt vào đảo có nhiều trân bảo này. Lúc ấy, các nữ la-sát nhìn xa thấy cây cờ tốt dao động, liền mang hương hoa, tấu âm nhạc, kéo nhau ra đón tiếp [các thương nhân], dẫn dụ họ vào trong thành sắt. Rồi thương chủ cùng với nữ vương la-sát vui chơi, còn những thương nhân khác mỗi người đều cùng vui với một nữ la-sát. Trải qua một năm, mỗi nữ la-sát đều sinh được một đứa con. Các nữ la-sát này [ưa thích người mới, chán người cũ, nên] dần dần phai nhạt tình cảm, đã muốn bắt giam hết các thương nhân vào lồng sắt, nhưng chỉ còn chờ có các thương nhân khác đến [để thay thế].
At that time in Jambudvipa there was a great merchant lord named Simha, whose son was named Simhala. As his father was getting old, Simhala assumed responsibility for family affairs. He led five hundred merchants to sail the seas to collect valuables and they were driven to this precious island by the wind and waves. When the rciksasis saw the auspicious pennant fluttering in the air they held fragrant flowers and played music to receive the guests and entice them into the iron city. The young merchant lord joined with the queen of the rciksasis in happiness and merry enjoyment, and each of the other merchants found a spouse for himself. After a year each of them had a son born to him. The raksasis were unfaithful to their paramours and intended to cast them into the iron prison and wait for other merchants to come.
Lúc ấy, Tăng-già-la ngủ thấy ác mộng, biết là có việc chẳng lành, liền [đang đêm] lẻn ra đi tìm đường về, gặp phải những lồng sắt [nhốt người], liền nghe có tiếng than khóc, vội leo lên cây cao rồi hỏi: “Ai giam giữ các người mà khóc than như thế?”
Then Simhala had an evil dream and knew that it was an ill omen. He secretly sought a way of returning home. When he approached the iron prison he heard the sound of pitiful wailing. So he climbed up a tree and asked, “Who imprisoned you, that you are crying so sorrowfully?”
Những người kia đáp rằng: “Ông còn chưa biết sao? Phụ nữ trong thành nầy đều là nữ la-sát. Trước đây họ dụ bọn tôi vào trong thành này hoan lạc vui chơi. Khi các ông vừa đến, họ liền nhốt hết chúng tôi vào lồng sắt, để ăn thịt dần dần, nay đã ăn hơn một nửa số người rồi. Không bao lâu rồi các ông cũng sẽ phải chịu tai họa giống như vậy thôi.”
The prisoners said, “Do you not know that all the women in the city are raksasTs! Formerly they lured us into the city to make merry with us, but just before your arrival they put us into this prison and began eating us as their food. Now most of us have been consumed by them. Before long you will suffer the same calamity.”
Tăng-già-la nói: “Giờ phải tính kế gì để thoát khỏi hiểm nạn này?” Người kia đáp: “Tôi nghe nói ở bờ biển có một con ngựa thần. Nếu hết sức thành tâm cầu thỉnh sẽ được cứu giúp.”
Simhala asked, “By what means can I escape from such a disaster?” The prisoners said, “We have heard that on the seaside there is a heavenly horse. If you say prayers with sincerity it will surely rescue you.”
Tăng-già-la nghe như vậy, [trở về] ngầm báo cho tất cả các thương nhân đều biết, rồi cùng nhau hướng về bờ biển, tập trung tinh thần hết lòng cầu cứu. Quả nhiên có ngựa thần hiện ra bảo mọi người rằng: “Các ông mỗi người bám vào một cái lông bờm của tôi, không được quay đầu nhìn lại, tôi sẽ đưa các ông vượt biển thoát nạn, đến châu Thiệm-bộ rồi bình an trở về quê cũ.”
Having heard this warning Simhala secretly told it to his merchant companions, and so they faced the seaside and prayed earnestly for help. At that time the heavenly horse came and told them, “All of you should grasp my mane firmly and do not look back. I will carry you across the sea to save you from disaster and send you home to Jambudvipa.”
Các thương nhân y theo lời dặn, một lòng bám chặt vào lông bờm ngựa, ngựa thần bay lên mây, vượt [thành] ra đến bờ biển. Các nữ la-sát khi ấy biết được chồng mình đã trốn đi, liền gọi nhau tìm xem họ đi đâu, mỗi nữ la-sát đều mang theo đứa con nhỏ của mình, cùng bay lên hư không, qua lại tìm kiếm, liền thấy biết được các thương nhân đang sắp ra khỏi bờ biển, lập tức báo cho nhau biết, cùng bay đến đó. Chỉ trong chốc lát đã đến nơi, [mỗi nữ la-sát] liền làm ra dáng vẻ thảm thiết, nước mắt ràn rụa, vừa khóc vừa nói [với chồng mình] rằng: “Chúng ta do gặp nhau mà có tình cảm, em may mắn được gặp người hiền lương, gia đình mình thật vui vẻ hạnh phúc, cùng nhau ân ái đã lâu, nay anh nỡ bỏ đi xa để vợ con côi cút, lo buồn thương nhớ, làm sao em chịu đựng nổi? Mong anh hãy ở lại, cùng em quay vào trong thành.”
The merchants did as they were told and gripped the mane of the horse intently. The heavenly horse rose into the air and galloped along a path of clouds to the seaside. When the raksasis found that their husbands were gone they related the news to one another, wondering where they had gone. They brought their infant sons with them and flew to and fro in the air. When they learned that the merchants were about to go across the sea they called to each other to fly the long distance together. In a short time they met the company of merchants with mixed feelings of grief and joy, shedding tears of emotion. Each of them covered her face and sobbed, saying to her husband, “I am lucky to have been acquainted with you, my good man, and we lived together happily in conjugal affection for a long time. But now you are trying to go away, leaving your wife and child to live in solitude and long for you in despair. How can you be so hardhearted? I hope you will stay and return with us to the city.”
Các thương nhân trong lòng còn phân vân, chưa chịu quay lại. Các nữ la-sát thấy thuyết phục không thành công, liền dùng đủ các mánh khóe quyến rủ, phô bày sắc đẹp gợi tình. Các thương nhân sinh lòng luyến ái, không kiềm chế được dục tình, trong lòng phân vân khởi ý muốn ở lại, liền bị rời khỏi thân ngựa thần rơi xuống. Các nữ la-sát cùng nhau mừng đón rồi dắt díu nhau quay trở lại trong thành. Riêng Tăng-già-la có trí tuệ sâu thẳm, lòng không vướng bận [sự quyến rủ của nữ la-sát], nên tiếp tục vượt qua được biển lớn, thoát khỏi hiểm nguy.
The merchants would not listen to their entreaties, however. Since the raksasis had failed in their tactfill solicitation they resorted to coquetry to seduce them with bewitchment, and the merchants could not withstand their amorous fascination. Just at the moment they hesitated about whether to go or stay, they dropped from the air. The raksasis were overjoyed and returned home with the merchants.
Simhala was a person of deep wisdom with no attachment in his mind, so he succeeded in crossing the great sea and was spared from the disaster.
Lúc ấy, nữ vương la-sát [không quyến rủ được Tăng-già-la, đành] một mình trở về trong thành sắt. Các nữ la-sát đều nói: “Cô không có mưu lược trí tuệ nên mới bị chồng bỏ. Đã không đủ tài năng thì không nên ở lại đây nữa.”
The queen of the raksasts returned to the iron city empty-handed. The other raksasis, said to her, “Since you are devoid of wisdom and tact you should not stay here.”
Nữ vương la-sát liền ôm đứa con do mình sinh ra, bay đến trước mặt Tăng-già-la, dùng đủ mọi cách quyến rủ mê hoặc để mong ông quay trở lại. Tăng-già-la miệng tụng thần chú, tay vung kiếm sắc, rồi quát bảo: “Ngươi là la-sát, còn ta là người. Người và quỷ hai đường khác nhau, không thể xứng hợp. Nếu ngươi cố bức ép, ta sẽ phải giết ngươi.”
The queen, with her son, then flew to where Simhala was and tried all means of feminine charm to persuade him to return with her. Bran-dishing a sword, Simhala recited an incantation and shouted at her, “You are a raksasibat I am a man. We go on different ways and are not compatible. If you importune me to go with you I will kill you at once.”
Nữ la-sát biết dụ dỗ mê hoặc không được, liền bay lên hư không mà đi, đến nhà Tăng-già-la, nói dối với cha của Tăng-già-la là ông Tăng-già rằng: “Con là công chúa con vua một nước [ở xa]. Anh Tăng-già-la đã cưới con làm vợ, sinh được một đứa con này. Chúng con cùng mang trân châu bảo vật [theo anh ấy] về lại cố hương, nhưng thuyền đi trên biển gặp cơn bão lớn trôi dạt đắm chìm, chỉ có mẹ con của con và Tăng-già-la may mắn được cứu thoát. [Trên đường về nhà thì] núi sông cách trở, đói khát rét lạnh, đắng cay khổ sở, con lỡ nói ra một lời trái ý, anh ấy liền ruồng bỏ [cả hai mẹ con], mắng nhiếc nặng lời, gọi con là đồ la-sát. Giờ con muốn về lại quê hương thì đường xa diệu vợi, còn ở lại đây thì mẹ góa con côi xứ lạ quê người, tới lui đều không nơi nương tựa, nên bạo gan đến đây thưa chuyện.”
Knowing that she could not prevail upon him, the raksasiHew away to Simhala’s home. There she lied to his father, Simha, saying, “I am a princess of a certain country, and I married Simhala and had a son. While we were on our way returning to his home country with precious gifts our ship was overturned in a hurricane and the three of us barely escaped death. In the course of traveling over the obstacles 933c of mountains and rivers we suffered the hardships of cold and hunger. Because one word was uncongenial to Simhala, he forsook me and, using insolent lan-guage, he slandered me as a raksasi. It is too far away to return to my own country and if I stay here I will have to live in solitude. Because I am in such a dilemma I have come to state my case to you.”
Ông Tăng-già [nghe rồi] liền nói: “Nếu quả thật như vậy, thôi thì hãy vào nhà ta mà ở.”
Simha said, “If what you have said is true, then come in and live in my house.”
Ở đó chưa được bao lâu thì Tăng-già-la về đến, người cha liền hỏi: “Sao con lại trọng tiền tài mà xem nhẹ vợ con như thế?”
Simhala returned shortly after the raksasitodk up her abode and his father said to him, “How is it that you value wealth but slight your wife and son?”
Tăng-già-la đáp: “Đó là nữ la-sát.” Liền đem hết sự việc kể lại cho cha mẹ, bà con thân tộc nghe biết chuyện rồi liền cùng nhau xua đuổi [la-sát].
Simhala said, “She is but a raksasi!” and then told everything to his father.
La-sát liền [đem chuyện bịa đặt ấy] thưa kiện lên đức vua, vua định xử tội Tăng-già-la. Tăng-già-la nói: “Nữ la-sát này là loài yêu quái dùng tình cảm sắc đẹp mê hoặc con người.”
His clanspeople and relatives all came to expel her, but the raksasi lodged an accusation against them before the king. The king was ready to mete out punishment to Simhala,
Nhà vua không tin lời Tăng-già-la, lại ham thích sắc đẹp của nữ la-sát, liền nói: “[Nay ngươi] đã từ bỏ người con gái này, vậy ta sẽ tuyển vào hậu cung.”
who said, “She is a raksasifull of feminine bewitch-ment.” Tthe king was already attracted by the beauty of the raksasi, and believeing that his words untrue, he said to Simhala, “If you insist on deserting this woman, leave her in my harem.”
Tăng-già-la thưa: “Chỉ sợ sẽ có tai họa, vì loài la-sát này chuyên ăn thịt uống máu con người.”
Simhala said, “I am afraid it will cause you disaster. The rciksasis are man-eaters!”
Vua không nghe lời Tăng-già-la, liền đưa nữ la-sát vào hậu cung. Nửa đêm hôm sau, [nữ vương la-sát] bay về đảo, triệu tập hết 500 nữ la-sát cùng kéo đến cung vua, dùng chú thuật độc hại giết hết người trong cung, ăn thịt uống máu tất cả, còn thừa bao nhiêu lại mang về đảo.
The king would not listen to Simhala’s advice, however, and took the raksasi as his wife.
In the latter half of the night she flew back to the precious island and sum-moned the five hundred raksasis to come with her to the palace. There they repeated evil incantations and committed cruelties, eating the flesh and drinking the blood of the people and animals in the palace. Afterward they brought the remains of the corpses back to the precious island.
Sáng hôm sau, quần thần đã tụ tập mà cung vua đóng chặt không mở cửa. Chờ nghe rất lâu cũng không có tiếng người bên trong, liền cùng nhau phá cửa xông vào. Đến giữa cung đình không thấy bóng người, chỉ thấy toàn xương trắng. Các quan đều nhìn nhau thất sắc, rồi khóc lóc bi thảm, không biết đâu là nguyên nhân tai họa.
At dawn the following morning the ministers came to have an audience with the king but they found the palace gate tightly closed, and though they waited for a long time they heard no one speaking. So they broke the door open, entered the palace, and found it empty except for heaps of skeletons. 
Startled at the sight, they looked at each other helplessly, crying and wailing in grief, not knowing the cause of the calamity.
Bấy giờ, Tăng-già-la đem hết sự việc kể cho mọi người nghe, các quan và dân chúng đều tin là thật, mới hay tai họa do vua tự chuốc lấy. Sau đó, quan đại thần phụ quốc cùng tất cả các quan tướng trong triều đều họp lại, bàn nhau suy cử một người có đức độ và sáng suốt để tôn lên ngôi vua, tất cả đều ngưỡng mộ phúc đức và trí tuệ của Tăng-già-la, cùng bàn luận với nhau rằng: “Việc suy tôn ngôi vua phải hết sức thận trọng suy xét. Trước hết phải chọn người có phúc đức trí tuệ, sau nữa phải là bậc thông minh sáng suốt. Nếu không có phúc đức trí tuệ thì không thể ngồi trên ngôi báu, còn không thông minh sáng suốt thì làm sao giải quyết việc nước? Tăng-già-la chính là người có đủ các phẩm tính đó. Ông ấy nằm mộng biết được tai họa sắp bị giết, cảm ứng được ngựa thần đến cứu, một lòng trung can ngăn đức vua, đủ trí tuệ để tự lo cho mình được an toàn. Quả là vận trời đã đến trong việc này để xây dựng nên một triều đại mới.”
When Simhala told them the story the ministers realized that the king had suffered from his own actions.
The state assistants and old ministers, as well as senior officials and veteran generals, then went in search of a virtuous and talented person of sublime character to serve as king. They all esteemed Simhala as a person of blessedness and wisdom. They discussed the matter, saying, “The nomination of a king should not be done at random. A king should be a person of congenital blessedness and wisdom, and he should be sensitive and sagacious. Without blessedness and wisdom he cannot enjoy the throne, and without sensitivity and sagacity how can he manage state affairs? Simhala is someone who is endowed with such qualities. He foresaw in a dream a presage of disaster and inspired the heavenly horse [to rescue him]. Out of loyalty, he pleaded with the king against the raksasi, and through his cleverness he preserved his own life. It is destined by heaven that he should start a new dynasty.”
Thế là quan quân cùng dân chúng đều đồng lòng suy tôn Tăng-già-la lên ngôi vua. Tăng-già-la từ chối không được, liền đáp tạ hết thảy các quan văn võ rồi lên ngôi vua. Lập tức trừ bỏ những điều tệ hại trước đây, biểu dương khuyến khích hiền tài.
Simhala declined the honor but his refusal was not accepted. So he agreed to hold sway according to the principle of the golden mean and, after paying due respect to the ministers, he ascended the throne. He corrected former corrupt practices and commended sages and good people.
Sau đó ban lệnh rằng: “Những người trước đây là thương nhân của ta, nay vẫn đang còn ở nước La-sát, chưa biết sống chết thế nào, lành dữ ra sao, nay phải đến đó giải cứu cho họ. Vậy phải chỉnh trang binh giáp đến đó. Cứu nguy trừ họa là phúc cho đất nước, thu được nhiều trân châu ngọc quý là lợi ích cho quốc gia.”
He issued an order, saying, “My former merchant companions are still in the country of the raksasis. I do not know whether they are alive or dead and their fate is unknown. In order to rescue them we must reorganize our troops. It is a blessing of the country to succor those who are in trouble and sympathize with those who are loyal. As for the collection of gems and valuables, this will also be to the nation’s advantage.”
Liền lập tức chỉnh đốn quân binh, dùng thuyền vượt biển ra đảo. Lúc đó, trên thành sắt cây cờ xấu dao động, các nữ la-sát thấy vậy kinh hoàng sợ sệt, liền kéo nhau ra dở trò mê hoặc dụ dỗ. Đức vua [Tăng-già-la] đã biết rõ sự dối trá ấy nên lệnh cho binh sĩ miệng niệm thần chú, tay vung khí giới dũng mãnh xông tới. Các nữ la-sát bị đánh tơi bời té ngả, quay lưng bỏ chạy, một số trốn ra đảo nhỏ, số khác bị chìm trên biển. Vua cho phá hủy thành sắt, phá hết lồng sắt cứu những thương nhân ra, lại thu về được rất nhiều trân châu ngọc quý.
Then he arrayed his troops and sent them across the sea.
At that time the pennant of evil omen on the gate of the iron city quivered. The raksasis, frightened by the sight, came out to receive the troops, intending to cheat and tempt them with seductive bewitchment. Knowing their fraudulence well, the king, Simhala, ordered his soldiers to recite incantations and to bravely undertake military action. The raksasis tumbled in retreat, either escaping to hide in an islet or drowning in the great sea. The iron city was destroyed and the iron prison broken; all the merchants were released and a large quantity of pearls and gems was obtained.
Sau đó, vua chiêu mộ dân đưa ra sống ở đảo này, xây dựng đô thành, lập thôn ấp, hình thành nên một nước riêng biệt, lấy tên của vua [mở nước] làm quốc hiệu, nên gọi là nước Tăng-già-la.
Common people were invited to immigrate to the precious island, where they constructed a capital city and built villages and towns. Consequently the country was established, called Simhala, after the name of their king.
Ông Tăng-già-la đó chính là tiền thân của đức Phật Thích-ca Mâu-ni, được ghi lại trong các truyện Bản sinh.
This tale of Simhala is a story of Sakya Tathagata in one of his previous incarnations.
Nước Tăng-già-la thuở trước chỉ toàn thờ phụng các tà thần. Sau khi đức Phật nhập diệt, trong khoảng 100 năm đầu tiên, có người em của vua Vô Ưu là Ma-hê-nhân-đà-la, từ bỏ ái dục, [xuất gia] chí cầu Thánh quả, chứng được sáu phép thần thông, đầy đủ tám môn giải thoát. Ngài dùng phép thần túc đi trên hư không mà đến nước này, rộng truyền Chánh pháp, lưu thông lời dạy của đức Thế Tôn. Từ đó về sau phong tục thuần hậu, tin nhận Phật pháp.
Formerly the inhabitants of the country of Simhala worshiped only inap-propriate gods. During the first century after the Buddha’s demise, King Asoka’s younger brother, Mahendra, relinquished the secular life of passionate desire and aimed at the fruition of sainthood; he attained the six supernatural powers and possessed the eight emancipations. He walked through the air and came to this country to propagate the right Dharma and spread the Buddha’s bequeathed teachings. Since then the people [of this country] have followed the pure faith.
Nước này có mấy trăm ngôi chùa, tăng sĩ hơn 20.000 vị, tu tập theo cả giáo pháp Đại thừa và Thượng tọa bộ [thuộc Tiểu thừa]. Sau khi Phật giáo truyền vào nước này được hơn 200 năm, mỗi người đều tin theo chỗ tu tập sở trường của mình, từ đó [Phật giáo] phân chia ra làm thành hai bộ phái. Thứ nhất là phái Ma-ha-tỳ-ha-la, bài xích Đại thừa, chọn tu tập theo Tiểu thừa. Thứ hai là phái A-bạt-da-kỳ-ly, tu học cả hai thừa và giảng rộng Tam tạng Thánh điển. Trong hàng tăng sĩ, những vị nghiêm trì giới hạnh thanh tịnh, định huệ sáng trong, khuôn phép nghi quỹ xứng bậc mô phạm quả thật rất nhiều.
There are several hundred monasteries with more than twenty thousand monks who follow the teachings of both the Mahayana and Sthavira schools. More than two hundred years after the arrival of the buddha-dharma they divided into two separate sects, each specializing in its own theories. One was the Mahavihara sect, which refuted the Mahayana teachings and advocated Hinayana tenets. The other was the Abhayagiri sect, which studied the teachings of both yanas (vehicles) and propagated the Tripitaka. The monks, strict and pure in practicing the disciplinary rides, are experts in meditation and have brilliant wisdom. Many of them have model conduct and serve as teachers of good behavior.
Kế bên Vương cung có một tinh xá thờ xá-lợi răng Phật, cao khoảng 60-70 mét, trang sức bằng nhiều trân châu báu vật. Bên trên tịnh xá xây lên một trụ cao, bên trên đặt bình bát báu rất lớn bằng ngọc quý màu hồng, phát ra ánh sáng rất vi diệu, bất luận ngày đêm, xa gần đều nhìn thấy như một ngôi sao sáng. Nhà vua mỗi ngày đối trước xá-lợi răng Phật làm lễ quán tẩy ba lần, dùng nước thơm để rửa, dùng hương bột để đốt lên xông, luôn chọn những loại quý báu nhất để cung kính cúng dường theo đúng nghi thức.
Beside the royal palace is the Temple of the Buddha’s Tooth, several hundred feet high and decorated with pearls and rare gems. A signal post is installed on the temple, with a huge padmaraga (ruby) affixed to it, which emits a refid- gent light that when viewed from a distance shines as brightly as a star, day or night. The king bathes the tooth relic three times a day with scented water and bums powdered incense as an offering, in an extremely opulent manner.
Bên cạnh tinh xá thờ xá-lợi răng Phật có một tinh xá nhỏ, cũng được trang sức bằng nhiều loại trân bảo, trong có một tượng Phật bằng vàng, do một vị vua đời trước của nước này đích thân đúc thành, lại dùng trân bảo ngọc quý trang sức trên nhục kế của Phật.
Beside the Temple of the Buddha’s Tooth is a small shrine, also decorated with various lustrous gems, inside of whicd is a golden image of the Buddha, cast after the form of a previous king of this country, with a precious gem embedded in the protuberance on the head.
Về sau có kẻ trộm rình rập muốn lấy, nhưng có nhiều lớp cửa bao bọc, người canh phòng cẩn mật [nên không sao lấy được]. Tên trộm ấy liền đào một đường hầm, vào được bên trong tinh xá, lúc đưa tay ra lấy trân bảo thì tượng bỗng cao lên, càng với tay tượng càng cao thêm, không thể lấy được. Kẻ trộm ấy đành thối lui, than rằng: “Như Lai thuở xưa tu hạnh Bồ Tát, khởi tâm rộng lớn, phát nguyện sâu rộng, trên từ thân mạng, dưới cho đến đất nước thành quách, từ bi thương xót tất cả chúng sinh, chu cấp cho hết thảy. Nay vì sao tượng [của ngài] lại tiếc giữ trân bảo? Như vậy có thể nói là đã quên hết công hạnh trong quá khứ rồi.”
A thief once intended to steal the gem but the shrine was guarded at one door after another in enclosures of railings under close surveillance. So he dug an underground passage and entered the temple through the tunnel. When he attempted to take the gem, however, the image rose higher and higher. The thief could not reach the gem and with- 934b drew, saying with a sigh, “When the Tathagata was practicing the bodhisattva way he cherished a great mind and made a solemn vow that out of compassion he would give everything, including his life and country, to the living beings of the four forms of birth. How can it be, then, that his image is so stingy and unwilling to part with the gem? I may well say that it does not know of the past events.”
[Nói xong bỗng thấy] tượng cúi đầu xuống, liền gỡ lấy trân bảo. Lấy được rồi liền mang đi bán. Những người nhìn thấy đều nói rằng: “Những trân bảo này là của tiên vương trước đây gắn trên đảnh nhục kế của tượng Phật bằng vàng. Từ đâu mà ông có được để mang đi bán?” Liền bắt giữ người ấy lại rồi trình lên đức vua. Vua gạn hỏi từ đâu có được, kẻ trộm đáp rằng: “Là Phật cho tôi, không phải tôi lấy trộm.”
At these words, the image bent its head to allow the man to take away the gem. Having obtained the gem, the thief went to find a purchaser. People who saw it said, “This is the gem that was on the protuberance of the golden image of the Buddha made by the previous king. Where did you get this? Are you trying to sell it here?” They seized him and reported to the king. When the king asked him where he got it the thief said, “The Buddha gave it to me. I did not steal it.”
Vua cho là nói dối nên sai người đến chỗ tượng Phật xem xét, quả nhiên thấy đầu tượng Phật vẫn còn cúi xuống. Vua thấy sự linh hiển như vậy thì tín tâm càng thêm kiên cố, không bắt tội tên trộm ấy mà trả tiền chuộc lại những trân bảo ấy rồi gắn trở lại trên nhục kế của tượng. Tượng vẫn giữ tư thế cúi đầu xuống cho đến ngày nay.
Thinking that the thief was being dishonest, the king sent people to view the image and they found its head was inclined. Seeing this spiritual manifestation, the king strengthened his faith. He did not punish the man but redeemed the gem for a large ransom. It was reset on the head of the image as an adornment for the protuberance. That is why the head of the image is still bending down up to now.
Bên cạnh cung vua có xây dựng một nhà ăn lớn, mỗi ngày có 18.000 vị tăng thọ trai ở đó. Chư tăng [đúng giờ] mang bình bát đến thọ thực xong trở về chỗ ở của mình. Từ khi Phật giáo được truyền vào nước đến nay đều duy trì sự cúng dường như thế, con cháu [các vua] luôn nối tiếp truyền thống ấy không để dứt mất. Chỉ trong khoảng mười mấy năm gần đây, chính sự trong nước rối loạn, chưa định vương vị, cho nên việc cúng dường như vậy mới không còn nữa.
Beside the royal palace there was a great kitchen, which provided food for eighteen thousand monks every day. At mealtimes the monks came with their almsbowls to receive food, and after receiving their share they returned to their respective abodes. Since the time Buddhism was first introduced into this country, the tradition of making offerings to the monks has been carried out from generation to generation up to the present age. Owing to political turmoil and the lack of an established king in the last decade or so, however, this tradition has not been maintained.
Vùng ven biển nước này sản sinh nhiều trân châu vật quý. Đức vua đích thân cúng tế nên thần giúp cho tìm được nhiều của quý vật lạ. Người dân thường hoặc quan viên đi tìm châu báu thì tùy theo phước báo mà kết quả không giống nhau. Tùy theo giá trị trân bảo tìm được mà phải đóng một phần thuế cho quốc gia.
Along the seacoast of this country pearls and gems are produced. When the king came to pray to the gods they would present him with extraordinary items. Townspeople come to dig for gems up and down but the output varies according to one’s luck. They have to pay taxes on whatever amount of gems they procure.
Nơi góc biển phía đông nam của nước này có núi Lăng-ca, núi cao khe sâu u ẩn tịch mịch, là nơi cư ngụ của quỷ thần. Nơi đây ngày xưa đức Phật đã thuyết kinh Lăng-ca.
At the southeast comer of the country is Lanka Mountain with lofty cliffs and deep valleys that are haunted by spirits and ghosts. The Tathagata once came here and delivered the Larika-siitra.
Về hướng nam, vượt biển mấy ngàn dặm thì đến châu Na-la-kê-la. Người châu này thân hình nhỏ bé, chiều cao chỉ khoảng hơn 1 mét, thân người nhưng miệng như mỏ chim, do nơi đây không có lúa gạo nên chỉ ăn toàn trái dừa.
Sailing south of this country for several thousand li, one reaches the island of Narikela. The islanders are short in stature, about three feet tall. Although they have human bodies their mouths are like the beaks of birds. They raise no crops and live only on coconuts.
Phía tây của châu Na-la-kê-la, vượt biển mấy ngàn dặm thì gặp một hòn đảo nằm lẻ loi. Trên núi ở phía đông hòn đảo này có tượng Phật ngồi bằng đá cao hơn 33 mét, quay mặt về hướng đông, dùng hạt châu nguyệt ái làm nhục kế trên đỉnh đầu, khi có ánh trăng chiếu vào thì nước từ đó chảy tuôn ào xuống đỉnh núi, rồi tiếp tục chảy xuống thành suối khe.
Sailing westward from the island of Narikela for several thousand li, one comes to a solitary islet. On the eastern cliff there is a stone image of the Buddha, over one hundred feet high, facing east in a sedentary posture, with a moonstone as the protuberance on its head. When the moonlight shines upon it water flows out from the gem, over the rocky slope down to the valley.
Lúc trước có một đoàn thương nhân đi biển gặp bão lớn, thuyền bị xô dạt rồi trôi vào đảo này. Vì nước biển không thể uống, đoàn người đều phải chịu khát nước đã lâu. Lúc ấy nhằm ngày rằm trong tháng, tượng Phật trên đỉnh núi tuôn chảy nước xuống, cả đoàn thương nhân [có nước uống] đều được cứu sống. Ai nấy đều cho rằng nhờ chí thành cầu nguyện nên được thần linh cứu giúp, liền dừng lại nơi đây thêm nhiều ngày. [Họ chợt nhận ra rằng] mỗi khi trăng bị đỉnh núi cao che khuất thì dòng nước này không chảy nữa. Lúc ấy, người thương chủ nghĩ rằng: “Như vậy chưa hẳn là vì cứu chúng ta mà có nước chảy xuống. Ta từng nghe có loại châu nguyệt ái, khi ánh trăng chiếu vào thì chảy nước ra. Hay là tượng Phật trên đỉnh núi này có loại châu quý đó?”
A company of merchants was once driven by a hurricane to this solitary islet, and because the salty seawater was undrinkable they suffered thirst for a long time. It happened to be a full moon day and the water flowing down from the top of the image saved all the merchants. Thinking that they had 934c been saved by spirits moved by their sincerity, they stayed there for a few days. When the moon was overshadowed by the lofty cliffs no water flowed down. The chief of the merchants said, “It may not be for the sake of saving us that the water flowed down. I have heard that when a moonstone is under the shining moonlight water flows out from it. Is it possible that a moonstone is on top of the Buddha’s image?”
Liền leo lên núi để xem thì quả nhiên có hạt châu nguyệt ái được dùng làm nhục kế trên đỉnh đầu tượng Phật. [Khi quay về,] người ấy liền kể lại ngọn nguồn sự việc cho mọi người biết.
They climbed up the cliffs to have a look and saw that the protuberance on the head of the image was made of moonstone. A man who had witnessed the event related the whole story.
Về phía tây nước này, vượt biển mấy ngàn dặm thì đến châu Đại Bảo. Nơi đây không có người ở, chỉ là nơi lưu trú của các vị thần. Những đêm thanh vắng từ xa nhìn đến thấy có ánh sáng soi chiếu núi non, khe nước. Có rất nhiều thương nhân đã đến đây nhưng đều không tìm kiếm được gì.
Sailing to the west from the country [Simhala] for several thousand li, one reaches a great precious island that is not inhabited by human beings but is merely an abode of deities. On a quiet night one may see from a distance the brightly illuminated mountains and rivers. Many merchants visited this island but none of them obtained anything.
Từ nước Đạt-la-tỳ-đồ đi về hướng bắc, vào rừng hoang, qua những tòa thành nằm riêng lẻ, các xóm ấp nhỏ, trên đường có những kẻ hung bạo kết thành bè đảng làm hại người đi đường. Tiếp tục đi như vậy hơn 652 km thì đến nước Đồ-kiến-na-bổ-la, thuộc miền Nam Ấn.
From the north of the country of Dravida, entering a wild jungle and passing by isolated cities and small towns where evil people caused trouble to wayfarers, I traveled more than two thousand li and arrived in the country of Korikanapura (in the domain of South India).
2. Nước Đồ-kiến-na-bổ-la

Nước Đồ-kiến-na-bổ-la chu vi khoảng 1.630 km, chu vi kinh thành khoảng 10 km. Đất đai màu mỡ, lúa thóc thu hoạch dồi dào. Khí hậu ấm nóng, phong tục nóng nảy, cứng cỏi, người dân có nước da đen, tánh khí hung bạo, ưa thích học các tài nghề, kính trọng người có đức hạnh, nhiều tài nghề.
The country of Korikanapura is more than five thousand li in circuit and its capital city is over thirty li in circuit. The land is fertile, yielding rich crops, and the climate is warm and hot. The people, who are impetuous by custom, are dark in complexion and fierce and tough in disposition, but they are fond of learning and uphold virtue and arts.
Trong nước có hơn 100 ngôi chùa với hơn 10.000 tăng sĩ, tu tập theo cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa. Có mấy trăm đền thờ Phạm thiên, các phái ngoại đạo chung sống hỗn tạp.
There are more than a hundred monasteries with over ten thousand monks who study and practice the teachings of both the Mahayana and Hinayana schools. Deva temples number several hundred and heretics of different faiths live together. 
Bên thành vương cung có một ngôi chùa lớn, hơn 300 vị tăng sĩ, đều là những người tài đức lỗi lạc. Trong khuôn viên chùa có một tinh xá lớn, cao hơn 33 mét, bên trong có mũ báu của thái tử Nhất Thiết Nghĩa Thành, chiều cao khoảng 60 cm, trang sức bằng trân bảo, đựng trong một hộp báu. Vào những ngày trai, mũ được lấy ra khỏi hộp, mang đặt trên tòa cao rồi dâng hương hoa cúng dường, thỉnh thoảng có thấy tỏa chiếu hào quang.
Next to the city of the royal palace is a great monastery with over three hundred monks, all of whom are people of outstanding virtue and talent. In the monastery there is a great temple more than a hundred feet high, in which is preserved a precious crown of Prince Sarvarthasiddha, less than two feet high, adorned with precious jewels and kept in a precious chest. On each fast day it is taken out, placed on a high dais, and incense and flowers are offered to it. It sometimes emits a bright light.
Bên cạnh kinh thành có một ngôi chùa lớn, bên trong khuôn viên có tinh xá cao khoảng 17 mét, có tượng đức Bồ Tát Từ Thị do A-la-hán Văn Nhị Bá Ức tạo thành, được khắc bằng gỗ đàn hương, cao khoảng 3.5 mét, vào những ngày trai thường tỏa chiếu hào quang.
In the great monastery next to the city there is a temple more than fifty feet high, in which is enshrined a statue of Maitreya Bodhisattva, over ten feet tall, carved out of sandalwood. On fast days it sometimes emits a divine light. It was made by the arhat Srutivimsatikoti.
Về phía bắc kinh thành không xa có một rừng cây đa-la, chu vi khoảng 10 km. Lá cây dài và rộng, màu sắc sáng tươi. Các nước [trong vùng] đều dùng lá cây này để ghi chép. Trong rừng có một ngọn tháp, là di tích nơi bốn vị Phật quá khứ đã kinh hành, ngồi thiền. Bên cạnh đó còn có tháp thờ xá-lợi di thân của A-la-hán Văn Nhị Bá Ức.
Not far to the north of the city is a wood of tala (fan palm) trees more than thirty li in circuit. The leaves of this kind of tree are long, broad, and glossy, and they are used as writing paper in various countries. In the wood there is a stupa that marks the place where the four past buddhas sat and walked up and down. Beside it is another stupa in which the relics of the arhat Srutivimsatikoti are preserved.
Về phía đông kinh thành không xa có một ngọn tháp, nền móng đã nghiêng lún vùi lấp nhưng phần còn lại vẫn cao khoảng 10 mét. Đọc trong các ghi chép trước đây thấy ghi lại rằng, trong tháp này có thờ xá-lợi của đức Như Lai, thỉnh thoảng vào những ngày trai thường có hào quang chiếu sáng. Đây là nơi ngày xưa đức Như Lai đã từng thuyết pháp, thị hiện thần thông, hóa độ chúng sinh.
Not far to the east of the city is a stupa whose base has collapsed; the remaining part is about thirty feet above the ground. I heard some old people say that it contains relics of the Tathagata that occasionally emit a divine light on fast days. Once the Tathagata preached the Dharma at this place and manifested supernatural powers to convert a mass of people.
Không xa về phía tây nam kinh thành có một ngọn tháp cao hơn 33 mét, do vua Vô Ưu xây dựng, là nơi A-la-hán Văn Nhị Bá Ức từng thị hiện thần thông để hóa độ chúng sinh. Bên cạnh đó có một ngôi chùa [đã hư hoại] chỉ còn lại nền móng. Chùa này trước đây do A-la-hán Văn Nhị Bá Ức xây dựng.
Not far to the southwest of the city is a stupa more than a hundred feet high built by King Asoka at the spot where the arhat Srutivimsatikoti showed great supernatural powers to convert living beings. Beside it is the ruined base of a monastery constructed by the arhat.
Từ nơi đây đi về hướng tây bắc là vào sâu trong rừng rậm, có rất nhiều thú dữ nguy hại, đảng cướp hung tàn, đi khoảng 760-810 km thì đến nước Ma-ha-lạt-sá, thuộc miền Nam Ấn.
From here going northwest and entering a great wild jungle infested with ferocious animals, harassed by cruel bandits in gangs, I journeyed for two thousand and four or five hundred li and reached the country of Maharastra (in the domain of South India).
3. Nước Ma-ha-lạt-sá

Nước Ma-ha-lạt-sá, chu vi hơn 1.940 km. Kinh thành chu vi khoảng 10 km, phía tây giáp với sông lớn. Đất đai màu mỡ, lúa má tốt tươi.
The country of Maharastra is more than six thousand li in circuit and its capital city, bordered by a large river on the west, is over thirty li in circuit. The land is fertile and yields plenty of crops.
Khí hậu nơi đây ấm nóng, phong tục thuần phác chân chất. Người dân thân hình cao lớn, tánh khí kiêu ngạo, lười nhác, [trong ứng xử thì] ơn đền oán trả được xem là tất yếu. Người bị làm nhục dám lấy cái chết để đáp trả. Khi có người cùng quẫn đến cầu cứu, dám quên thân mình để cứu giúp. Khi muốn báo thù ai thì công khai báo tin trước, rồi hai bên cùng mặc áo giáp, trang bị khí giới, quyết đấu với nhau. Trong chiến trận, khi truy đuổi thì không giết kẻ đã chịu đầu hàng. Quân tướng thua trận không phải chịu hình phạt, chỉ cấp cho y phục phụ nữ, khiến nhục nhã phải tự sát. Triều đình trọng đãi mấy trăm dũng sĩ, mỗi khi sắp ra trận quyết chiến thì trước hết uống rượu cho say, xong mới xông ra trận tiền, một người phá được cả vạn quân địch. Những dũng sĩ này có khi tùy tiện giết hại người khác cũng không bị triều đình bắt tội. Mỗi khi họ đi đâu đều có đánh trống mở đường.
The climate is warm and hot and the people, simple and honest by custom, are tall and sturdy in stature and are proud and carefree by nature. They are grateful for kindness and take revenge for injustices. If anyone insults them they will risk their lives to avenge themselves. They extend help selflessly to those who come seeking refuge in distress. When they are about to take vengeance they notify their opponent beforehand, so that both parties can put on armor to fight a duel. On the battlefield they chase after defeated enemies but they do not kill those who have surrendered. No punishment is meted out to defeated soldiers and generals but they are made to put on women’s clothing to shame them into committing suicide. The state keeps several hundred warriors. Before each decisive battle they become intoxicated with wine, and a single one of them, leading the vanguard of the fighters, can frustrate the bellicose spirit of a host of enemies. If they injure the inhabitants the state will not punish them. The vanguard beats the drums each time they come out for an battle.
Triều đình cũng nuôi mấy trăm con voi dữ. Khi sắp ra trận liền cho uống rượu say, lúc thả ra chúng giẫm đạp xông về phía trước không quân địch nào cản nổi. Vua nước này cậy có dũng sĩ và voi dữ như vậy nên khinh thường, ức hiếp các nước bên cạnh.
Moreover, they raise several hundred violent elephants, which are also fed with wine before taking part in an engagement. The [animals] trample and stampede wildly and break down all resistance before them. Relying on the strength of these warriors and elephants, the king looks down on neighboring countries.
Đức vua tên Bổ-la-kê-xá, là người thuộc chủng tộc sát-đế-lợi, có mưu cao kế sâu, lòng nhân từ trải rộng nên bề tôi đều tận trung, hết lòng phụng sự.
The king, named Pulakesin, is a ksatriya by caste. He is an astute man of farsighted resourcefulness who extends kindness to all and his subjects serve him with perfect loyalty.
Hiện nay vua Giới Nhật đánh đông dẹp tây, xa gần đều kính sợ quy thuận, duy chỉ có người nước này là không thần phục. Vua đã nhiều lần huy động quân binh cả năm vùng Ấn Độ cũng như chiêu mộ tướng tài của các nước, rồi thân chinh đến đây thảo phạt nhưng vẫn chưa từng thắng được. [Nói về] quân đội của nước này là như vậy, còn phong tục thì như đã nói trên.
The great King Slladitya has invaded from the east and west and a number of countries far and near have either pledged allegiance to him or become his vassals; only the country [of Maharastra] has refused to acknowledge his suzerainty. On several occasions Slladitya led the armed forces of the five parts of India and summoned heroic fighters of various countries under his personal command to invade this country but he failed to win a victory.
Người dân hiếu học, về tín ngưỡng thì có người tin Phật, cũng có người tin theo tà đạo. Có hơn 100 ngôi chùa, tăng sĩ hơn 5.000 vị, tu tập có cả Đại thừa và Tiểu thừa. Có 100 đền thờ Phạm thiên, tín đồ ngoại đạo thật đông.
Such is the militancy of this country but its social customs are quite different. The people are fond of learning and profess both heterodox and orthodox doctrines. There are more than a hundred monasteries with over five thousand monks who study comprehensively both the Mahayana and Hinayana teachings. Deva temples are counted by the hundreds and the heretics are quite numerous.
Bên trong và bên ngoài kinh thành có 5 ngọn tháp, đều do vua Vô Ưu xây dựng ở những nơi có di tích bốn vị Phật quá khứ kinh hành và ngồi thiền. Ngoài ra, có rất nhiều tháp khác xây bằng đá hoặc bằng gạch, không thể kể hết.
935b Within and without the great city are five stupas built by King Asoka to mark sites where the four past buddhas sat and walked up and down. The other stone and brick stupas are too numerous to be described in detail.
Không xa về phía nam kinh thành có một ngôi chùa cổ, bên trong có tượng Bồ Tát Quán Tự Tại bằng đá, ẩn chứa sự linh thiêng, [những người] cầu nguyện đa phần đều được ứng nghiệm.
Not far to the south of the city is an old monastery in which is enshrined a stone image of Avalokitesvara Bodhisattva that possesses latent spiritual power and often answers prayers.
Miền đông nước này có một cụm núi lớn, nhiều ngọn trùng điệp, sườn núi quanh co, đỉnh núi vút cao. Nơi đây có một ngôi chùa xây dựng trong khe núi u tịch, tầng cao mái rộng, nằm trên sườn núi cao, dựa lưng vách núi, nhìn xuống khe sâu. Chùa này do A-la-hán A-chiết-la xây dựng.
In the eastern part of the country there is a great mountain whose peaks join together to form a screen, with steep cliffs rising in a range. In the deep valley there is a monastery with lofty halls and spacious houses on the peaks at the back and storied pavilions and mulitiered terraces standing before the cliffs, facing the gully. This monastery was built by the arhat Acara (known as Suoxing, “Behavior,” in Chinese),
A-la-hán A-chiết-la là người miền Tây Ấn. Sau khi mẹ ngài mạng chung, ngài liền [nhập định] quán sát xem mẹ sinh về nơi đâu, thì thấy đã sinh làm thân nữ ở nước này. Ngài liền đến đây, muốn tùy cơ hóa độ cho mẹ. Đến nơi rồi liền vào làng khất thực, đi thẳng đến ngôi nhà mà mẹ ngài tái sinh vào. Có người con gái trong nhà ấy mang thức ăn ra cúng dường ngài, hai bầu vú tự nhiên chảy sữa. Những người thân thuộc trong nhà nhìn thấy đều cho là điềm chẳng lành. A-la-hán A-chiết-la liền thuyết pháp nói rõ nhân duyên, người con gái nghe xong liền chứng thánh quả.
who was a native of West India. After his mother had died he observed where she had been reborn and saw that she was reborn as a girl in this country. The arhat came here with the intention of guiding and taking his mother [into the path of Buddhism] as the occasion arose. He entered the village to collect alms and came to the house where his mother had been reborn. When the girl came out to offer him food her breasts spontaneously yielded milk. Her kinsfolk thought it was inauspicious but the arhat told them the cause of the phenomenon and thereupon the girl realized the fruition of sainthood.
A-la-hán A-chiết-la nhớ ơn sinh thành duỡng dục [đời trước] do nghiệp duyên đưa đẩy, muốn báo đáp ơn sâu nên xây dựng ngôi chùa này.
In order to repay the kindness of his mother for giving birth to him in her previous life as a result of karmic forces, the arhat built this monastery out of gratitude for her deep virtue.
Trong chùa này có một tinh xá lớn, cao hơn 33 mét, bên trong có một tượng Phật bằng đá cao hơn 23 mét. Bên trên tượng đá có bảy tầng lọng che bằng đá, được treo lơ lửng không thấy dấu nối liền nhau, các tầng lọng che đều cách nhau khoảng 1 mét. Đọc trong các ghi chép trước đây thấy viết rằng đây là do nguyện lực của A-la-hán A-chiết-la tạo thành, hoặc cũng có thuyết nói là nhờ sức thần thông, hoặc có thuyết nói là do công hiệu của một loại thuốc. Khảo cứu trong sách vở vẫn không thấy chỗ nào nói về nguyên nhân của việc này.
The great temple of the monastery is more than a hundred feet high; enshrined within is a stone image of the Buddha, over seventy feet tall. Above the image are suspended seven tiers of stone canopies that are neither attached nor supported, each separated from the one above it by a space of about three feet. I heard some old people say that the canopies were supported by the willpower of the arhat, or by his supernatural powers, or by the efficacy of drugs and magic. I made an actual investigation but could not find out the real cause.
Bốn phía chung quanh tinh xá là các vách đá được điêu khắc chạm trổ hình ảnh miêu tả những sự tích nhân duyên của đức Như Lai khi còn tu hạnh Bồ Tát, những biểu hiện tốt lành khi ngài thành đạo, những việc linh ứng khi ngài nhập diệt, hết thảy mọi việc lớn nhỏ đều được miêu tả đầy đủ không bỏ sót.
All around the temple, engraved on the stone walls, are carvings depicting the events of the Tathagata when he was practicing the bodhisattva way in his previous lives, such as the good omens of his realization of sainthood and the spiritual signs of his entering nirvana, including all major and minor items carved in full detail.
Phía ngoài cổng chùa, ở các hướng nam, bắc và hai bên, mỗi nơi đều có một con voi đá. Nghe người địa phương kể rằng, những con voi đá này thỉnh thoảng lại rống lên tiếng lớn khiến mặt đất chấn động. Thuở xưa, Bồ Tát Trần-na nhiều lần dừng chân ở chùa này.
Outside the gate of the monastery, at the south and north and to the right and left, are stone elephants, each standing at a point. I heard some native people say that these elephants have occasionally trumpeted and caused earthquakes. Formerly Dignaga Bodhisattva spent most of his time in this monastery.
Từ nơi đây đi về hướng tây khoảng 325 km, qua sông Nại-mạt-đà thì đến nước Bạt-lộc-yết-chiếp-bà, thuộc miền Nam Ấn.
From here going west for more than one thousand li and after crossing the Narmada River, I reached the country of Bharukacchapa (in the domain of South India).
4. Nước Bạt-lộc-yết-chiếp-bà

Nước Bạt-lộc-yết-chiếp-bà chu vi khoảng 790-810 km. Chu vi kinh thành khoảng 6.5 km. Đất đai bị nhiễm mặn, cây cỏ thưa thớt. Dân ở đây làm muối từ nước biển và khai thác các nguồn lợi từ biển, lấy đó làm nghề nghiệp. Khí hậu nóng bức, thường có lốc xoáy đột ngột. Phong tục hẹp hòi, tánh người gian trá quỷ quyệt, không biết đến việc học tập các tài nghề.
The country of Bharukacchapa is two thousand four hundred or five hundred li in circuit and its capital city is over twenty li in circuit. The soil is saline and plants are sparse. Salt is produced by boiling seawater, and the sea provides profitable occupations. The climate is hot, with abrupt 935c cyclones blowing violently. The people are stingy by custom and deceitfid in disposition. They are ignorant of learning and arts
Về tín ngưỡng thì có người tin Phật, cũng có người tin theo tà đạo. Có hơn 10 ngôi chùa, tăng sĩ hơn 300 vị, tu tập theo Đại thừa và Thượng tọa bộ [thuộc Tiểu thừa]. Có hơn 10 đền thờ Phạm thiên, ngoại đạo các phái sống chung hỗn tạp.
and believe in both heterodox and orthodox doctrines. There are over ten monasteries with more than three hundred monks, who study Mahayana and Sthavira teachings. Deva temples are more than ten in number and the heretics live together.
Từ đây đi về hướng tây bắc khoảng 652 km thì đến nước Ma-lạp-bà (cũng gọi là nước Nam La), thuộc miền Nam Ấn.
From here going northwest for more than two thousand li, I reached the country of Malava (i.e., the country of South Lata in the domain of South India).
5. Nước Ma-lạp-bà

Nước Ma-lạp-bà chu vi gần 1.940 km. Chu vi kinh thành khoảng 10 km, phía đông nam giáp với sông Mạc-ê. Đất đai màu mỡ, lúa má tốt tươi, cây cỏ đều xanh tốt, hoa trái dồi dào phong phú, đặc biệt thích hợp trồng lúa mạch nên thực phẩm chính là các loại bánh làm bằng bột lúa mạch.
The country of Malava is more than six thousand li in circuit and its capital city, over thirty li in circuit, is situated on the southeast bank of the Mahi River. The land is fertile, producing rich crops, with luxuriant vegetation and plenty of flowers and fruit. The soil is specially good for growing winter wheat, so the inhabitants mostly eat pancakes and baked wheat flour.
Người dân tánh tình hiền lành nhu thuận, nhìn chung đều thông minh mẫn tiệp, ngôn từ nhã nhặn, học tập các tài nghề đều sâu vững. Trong năm vùng Ấn Độ có hai nước xem trọng việc học, là nước Ma-lạp-bà này ở phía tây nam và nước Ma-yết-đà ở phía đông bắc. Hai nước này quý trọng cung kính những người đức hạnh, nhân từ, thông minh, học rộng.
The people are benign by nature and are generally intelligent. They speak a refined language and are well educated. In all the five parts of India there are two countries in which learning is emphasized; one is the country of Malava in the southwest and the other is the country of Magadha in the northeast. The people [of Magadha] prize virtue, advocate loving-kindness and, being diligent and clever, they work hard at learning.
[Về tín ngưỡng], ở nước này có người tin Phật, cũng có người tin theo tà đạo. Có mấy trăm ngôi chùa, tăng sĩ hơn 20.000 vị, tu tập theo giáo pháp của phái Chính lượng thuộc Tiểu thừa. Có mấy trăm đền thờ Phạm thiên, người theo ngoại đạo rất đông, đa phần là phái ngoại đạo Đồ hôi.
In this country [of Malava] both heterodox and orthodox doctrines are followed and there are several hundred monasteries with more than twenty thousand monks who study the teachings of the Hinayana Sammitiya school. Deva temples are several hundred in number with numerous heretics, mostly ash-smearing ascetics.
Các ghi chép trong nước cho biết, cách đây 60 năm có đức vua Thi-la-a-điệt-đa là người thông minh cơ trí, tài cao học rộng, thương yêu muôn loài, kính trọng tôn sùng Tam bảo. Đức vua từ lúc sinh ra cho đến khi mạng chung chưa từng lộ vẻ sân hận trên nét mặt, bàn tay chưa từng làm hại sinh linh. Mỗi khi cho voi ngựa uống nước đều phải lọc trước, vì sợ tổn hại đến các sinh vật sống trong nước. Lòng nhân từ đến mức như thế, cho nên trong suốt hơn 50 năm ngài ở ngôi vua, [trong nước] các loài thú hoang gần gũi chẳng sợ người, vì dân chúng khắp nước đều giữ giới không giết hại. Kế bên cung điện của vua có xây dựng một tinh xá, kiến trúc cực kỳ tinh xảo, công phu, đầy đủ mọi sự trang nghiêm, bên trong có tạo tôn tượng bảy vị Phật Thế Tôn. Mỗi năm đều tổ chức Đại hội Vô già, mời thỉnh chư tăng khắp bốn phương về để cúng dường đủ bốn nhu cầu thiết yếu, hoặc [cúng dường] ba tấm y và các vật dụng của chư tăng, hoặc [cúng dường] bảy món báu, các loại trân châu kỳ bảo. Việc làm tốt đẹp này của vua được truyền nối qua nhiều đời, không hề dứt mất.
It is recorded in the local history that sixty years ago the king, named Siladitya, was a person of brilliant wisdom and resourcefulness with broad and profound knowledge. He protected and fostered all living beings and venerated the Triple Gem. From his birth up to his old age he was never angry with anyone and never killed living beings. He was so kind that even the drinking water for elephants and horses was filtered before it was given to them, lest insects in the water would be injured. During his reign of more than fifty years, wild animals were friendly with people and in the whole country the people never killed or harmed them. Beside the royal palace was a temple built by the most skilled workmen, decorated with all kinds of adornments. Images of the seven buddhas were kept inside the temple. An unlimited assembly was held regularly every year, to which monks from the four quarters were invited to receive offerings of the four monastic requisites, or the three types of robes and the seven kinds of precious gems. This good deed has been done from generation to generation without interruption.
Từ kinh thành đi về hướng tây bắc khoảng 6.5 km thì đến một ngôi làng của người bà-la-môn. Bên cạnh đó có một nơi đất lún sâu thành hố. Trong suốt mùa thu, mùa hạ, có lúc mưa dầm liên tiếp đến 10 ngày, có nhiều dòng nước chảy vào nhưng hố này chưa bao giờ đọng nước. Bên cạnh đó có một ngọn tháp nhỏ, theo các ghi chép trước đây thì là nơi ngày xưa có ông bà-la-môn cực kỳ kiêu ngạo bị đọa vào địa ngục ngay khi còn đang sống.
More than twenty li to the northwest of the great city one comes to a brahman village. Beside it is a pit, which never overflows when water flows into it from different sources, even under the excessive rains that last ten days at a stretch during the autumn and summer seasons. Beside the pit was a small stupa. I heard some old people say that this was the place where an arrogant brahman of yore fell into hell alive.
Thuở xưa, trong làng này có một ông bà-la-môn từ khi sinh ra đã hiểu biết rộng khắp, là bậc kiệt xuất trong các học giả đương thời. Đối với kinh điển đạo Phật và các tôn giáo khác, ông đều có sự nghiên cứu sâu xa. Các môn lịch số, thiên văn ông đều nắm vững, hiểu rõ tất cả như nhìn vào lòng bàn tay. Ông có phong cách cao tột, danh vang khắp chốn. Nhà vua rất quý trọng ông, người trong nước ai cũng cung kính. Học trò có đến cả ngàn người, theo học nghĩa lý và hết sức kính ngưỡng phong thái của ông.
In this village there was once a brahman who was a man of erudition, the most prominent among his contemporaries, learned in both Buddhist and heretical texts. He was also an expert in the art of calendrical calculation and astronomy. As a person of lofty character, his fame spread far. The king respected him appreciatively and the people venerated him as a teacher. His disciples, who were counted in the thousands, followed his theories and admired his way of teaching.
Ông thường nói rằng: “Ta vốn vì đời mà sinh ra, thuật lời bậc thánh, dẫn dắt người phàm. Các bậc hiền nhân thánh triết từ trước đây cho đến sau này, không ai có thể sánh bằng ta. Xem như các ông Đại Tự Tại Thiên, Bà-tẩu thiên, Na-la-diên thiên, Phật Thế Tôn, người đời đều xưng tán ngợi khen, học theo đạo lý của họ, ông nào cũng được vẽ hình tạc tượng, người người tranh nhau thờ kính. Còn như ta đây, đức độ vượt hơn các ông ấy, danh vang trong đời, nếu không có gì khác hơn để phân biệt với họ thì làm sao [thiên hạ được] thấy rõ?”
He often said, “I was born into the world to transmit the teachings of the sages in order to guide ordinary people. None of the former sages or future philosophers are my equal. The people are enthusiastic in propagating the theories of Mahesvaradeva, Vasudeva, Narayanadeva, and the World-honored Buddha, and they draw pictures of them for pious worship. But I now surpass them all in virtue and my reputation is dominant at the present time. I should be different from them all, otherwise how can I distinguish myself?”
[Ông nói như vậy rồi] liền dùng gỗ chiên đàn đỏ làm một cái tòa ngồi, dưới bốn chân tòa cho khắc thành hình bốn tượng Đại Tự Tại Thiên, Bà-tẩu thiên, Na-la-diên thiên và Phật Thế Tôn. Mỗi khi đi đến đâu, ông đều mang theo tòa ngồi ấy. Sự kiêu ngạo của ông đến mức như thế.
So he carved images of Mahesvaradeva, Vasudeva, Narayanadeva, and the World-honored Buddha in red sandalwood and made a seat with four legs, which was carried wherever he went. Such was his attitude of overweening pride.
Lúc bấy giờ, miền Tây Ấn có tỳ-kheo Bạt-đà-la-lũ-chi, thông hiểu thấu đáo luận Nhân Minh và nghiên cứu sâu xa các luận thuyết ngoại đạo. Ngài có đạo phong thuần khiết, hương thơm giới hạnh ngào ngạt khắp gần xa, sống đời ít ham muốn, biết đủ, chẳng mong cầu đòi hỏi gì nơi người khác. Nghe [chuyện của ông bà-la-môn] như thế, ngài than rằng: “Đáng tiếc thay! Trên đời này không có ai [đủ sức sửa trị ông ta] chăng, nên mới để cho kẻ ngu si ấy làm việc xấu ác tổn hại đạo đức.
At that time in West India there was a bhiksu called Bhadraruci (known as Xianai, “Friendly Affection,” in Chinese), a highly learned logician who had fully mastered the theories of heretical treatises. He was pure in conduct and observed the disciplinary rules in such a perfect manner that his moral influence affected others, just like the strong fragrance of flowers does. He had little desire and was quite content, never seeking material welfare. Having heard about the arrogant brahman, the bhiksu said with a sigh, “What a pity! At present the world is devoid of a great teacher, so an ignorant man dares to commit treacherous deeds.”
Nói rồi liền chống tích trượng vượt đường xa tìm đến nước này, đem những suy nghĩ trước đó của mình trình lên đức vua. Vua nhìn thấy y phục đơn sơ nên chưa có ý kính trọng, nhưng khi nghe trình bày [sự việc] thì đánh giá cao chí hướng của ngài, liền miễn cưỡng thi lễ. Sau đó thiết lập một nơi tranh luận và báo cho ông bà-la-môn [kiêu ngạo kia] biết.
[The bhiksu} carried his pewter staff and traveled far to this country. He told his intention to the king, who, on seeing that he was dressed in a shabby robe, did not have any feeling of veneration for him. Due to his lofty ambition, however, the king was obliged to pay the monk due respect. He prepared debating seats and invited the brahman,
Bà-la-môn nghe qua bật cười lớn rồi nói: “Người này là ai mà dám làm chuyện này?” Liền ra lệnh cho môn đồ cùng đến luận trường, có đến mấy trăm ngàn người đều vây quanh hầu nghe.
who said with a smile, “Who is it that dares to cherish such an ambition?” He ordered his disciples to come to the debating ground, and hundreds and thousands of people assembled to listen to the argumentation.
Ngài Hiền Ái đắp y xấu cũ, trải cỏ làm tòa ngồi. Bà-la-môn chễm chệ trên tòa ngồi tự mang đến, bài xích Chánh pháp, mở rộng đạo tà. Tỳ-kheo Hiền Ái biện luận thao thao, lưu loát như suối tuôn nước chảy, liên tục tuần tự hỏi qua đáp lại nhiều vòng, một hồi lâu thì bà-la-môn đuối lý chịu thua.
Bhadraruci, wearing his shabby robe, sat on a heap of grass spread on the ground, while the brahman sat on the seat that he carried with him. The brahman refuted the right Dharma and propagated erroneous theories. The bhiksu argued fluently for several rounds and at last defeated the brahman [in the debate].
Đức vua nói: “Hóa ra từ lâu ông chỉ lạm dụng hư danh, khi dối bề trên, mê hoặc mọi người. Pháp luật điển chế từ xưa đã ghi rõ, kẻ tranh luận thua phải bị giết.”
The king said [to the brahman], “With your false repute you have cheated the king and beguiled the people for a long time. It is laid down in the ancient code that the party defeated in a debate should be put to death.”
[Vua liền ra lệnh] làm một lò sắt nóng đỏ, muốn bắt bà-la-môn ngồi lên trên đó. Bà-la-môn cùng đường quẫn bách, quay sang cúi lễ ngài Hiền Ái, cầu xin cứu mạng. Ngài Hiền Ái thương xót, nói với vua rằng: “Đại vương nhân từ trọng lễ, đức độ phủ khắp gần xa, những lời xưng tụng, nơi nơi đều biết. Nay chỉ nên ban phát lòng từ, dưỡng nuôi muôn vật, không nên áp dụng hình phạt tàn khốc. Xin khoan hồng tội lỗi, chỉ thả ra đuổi đi.”
A piece of hot iron from a stove was made ready for the brahman to sit on. The brahman, pressed in such an awkward predicament, took refuge in Bhadraruci and pleaded for his help. The bhiksu said to the king, “The influence of Your Majesty’s kindness spreads far and your good reputation is known to all. Please be compassionate and do not resort to cruel punishment. Pardon him for his mistakes and let him go wherever he wishes.”
Vua [liền tha tội chết, nhưng] bắt phải cưỡi lừa, đưa đi loan báo [việc tranh luận bị thua] khắp trong thành ấp. Bà-la-môn xấu hổ vì bị làm nhục [như vậy] nên uất hận đến thổ huyết.
The king ordered the brahman to ride on a donkey to announce his defeat all around the city. Put to such shame, the brahman felt so gravely insulted that he spat blood.
Tỳ-kheo Hiền Ái nghe vậy liền đến an ủi rằng: “Ông đã học hết nội ngoại điển, danh tiếng vang khắp xa gần, hẳn phải hiểu rõ về sự vinh nhục, lên xuống ở đời. Danh cũng chỉ là hư danh, có gì chắc thật đâu?”
Hearing this, the bhiksu went to comfort him and said, “You are learned in both Buddhist and heretical doctrines and your fame reaches far and near. Concerning the matter of glory or insult, you should know how to deal with it. What is substantial in the matter of fame?”
Bà-la-môn nổi cơn phẫn nộ, mắng chửi vị tỳ-kheo, nói ra những lời phỉ báng Đại thừa, khinh miệt các bậc tiên thánh. Lời còn chưa dứt đã thấy đất nứt ra, thân còn đang sống bị rơi xuống hầm sâu. Di tích ấy nay vẫn còn.
The brahman, indignant, rebuked the bhiksu, slandered the Mahayana teachings, and scorned the ancient saints. Before he had finished speaking his blasphemy the earth cracked open and he fell alive into the crevice. The site still remains there. 
Từ nơi đây về hướng tây nam là vùng giáp biển, đi theo hướng tây bắc khoảng 790-810 km thì đến nước A-trá-ly, thuộc miền Nam Ấn.
From there rounding a cape and going northwest for two thousand four hundred or five hundred li, I reached the country of Atali (in the domain of South India).
6. Nước A-trá-ly

Nước A-trá-ly chu vi khoảng 1.950 km. Chu vi kinh thành khoảng 6.5 km. Cư dân đông đúc phồn thịnh, trân châu kỳ bảo tích tụ khắp nơi. Lúa thóc tuy có đủ nhưng người dân lấy việc buôn bán làm nghề nghiệp chính. Đất nhiều cát và nhiễm mặn, hoa quả rất ít. Nơi đây trồng giống cây hồ tiêu, lá cây giống loại tiêu ở đất Thục (Tứ Xuyên). Ngoài ra còn có cây huân lục hương, lá cây giống như cây đường lê [ở Trung quốc].
The country of Atali is more than six thousand li in circuit and its capital city is over twenty li in circuit. The inhabitants are wealthy and prosperous, having plenty of pearls and gems. Although they pursue farming, trade is the preferred calling. The soil is sandy and saline, yielding few flowers and little fruit. The country produces pepper trees, the leaves of which are like those of the pepper tree growing in the region of Shu [in China], and it also produces the xiinlu (frankincense) tree, whose leaves resemble those of the birch-leaf pear.
Khí hậu nóng, có nhiều gió cát. Người dân tánh tình hẹp hòi, xem trọng tiền tài, xem nhẹ đức hạnh. Ngôn ngữ, văn tự, nghi lễ, hình pháp... đều tương tự như nước Ma-lạp-bà. Đa số không tin chuyện làm phước, nếu như có người tin thì đều là thờ cúng thiên thần. Đền miếu thờ phụng có mười mấy nơi, các phái ngoại đạo chung sống hỗn tạp.
The climate is hot and windy and there are dust storms. The people are mean by nature; they value wealth and despise virtue. Their writing and spoken language, as well as their manners and laws, are generally the same as in the country of Malava. Most of them do not believe in gaining happiness [by performing meritorious deeds]. Even those who believe in it also worship heavenly deities. There are over ten houses of worship and the heretics live together.
Từ nước Ma-lạp-bà đi về hướng tây bắc khoảng 97 km thì đến nước Khế-trá, thuộc miền Nam Ấn.
Going northwest from the country of Malava on a journey of three days, I reached the country of Kita (?) (in the domain of South India).
7. Nước Khế-trá

Nước Khế-trá, chu vi khoảng 97 km. Chu vi kinh thành khoảng 6.5 km. Dân cư đông đúc phồn thịnh, cuộc sống sung túc giàu có. Nước này không có vua, chịu phụ thuộc vào nước Ma-lạp-bà. Đất đai, sản vật, phong tục tập quán cũng giống như nước Ma-lạp-bà.
The country of Kita is more than three thousand li in circuit and its capital city is over twenty li in circuit. It has a large number of wealthy households. It has no sovereign lord and is under the jurisdiction of the country of Malava, and its natural conditions and products are similar to those of that country.
Trong nước có hơn 10 ngôi chùa với hơn 1.000 tăng sĩ, tu tập theo cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa. Có mấy chục đền thờ Phạm thiên, người theo ngoại đạo rất đông.
There are over ten monasteries with more than a thousand monks, who study and practice the teachings of both the Mahayana and Hinayana schools. There are scores of deva temples and numerous heretics.
Từ nơi đây đi về hướng bắc khoảng 325 km thì đến nước Phạt-lạp-tỳ, cũng gọi là nước Tỷ-la-la, thuộc miền Nam Ấn.
From here going northward for more than one thousand li, I reached the country of Valabhi (i.e., the country of North Lata, in the domain of South India).
8. Nước Phạt-lạp-tỳ

Nước Phạt-lạp-tỳ chu vi gần 2.000 km. Chu vi kinh thành khoảng 10 km. Đất đai, thổ sản, khí hậu, phong tục, tính người... đều giống như nước Ma-lạp-bà. Dân cư đông đúc phồn thịnh, đời sống sung túc giàu có. Có những nhà giàu tích lũy tiền tài hàng chục triệu, kể ra cũng có hơn trăm nhà. Những hàng quý vật lạ từ phương xa, phần nhiều đều quy tụ về nước này.
The country of Valabhi is more than six thousand li in circuit and its capital city is over thirty li in circuit. The native products, climatic conditions, social customs, and temperament of the people are similar to those of the country of Malava. The inhabitants are prosperous, possessing enormous wealth. More than one hundred families have each accumulated property worth one hundred kotis of coins. Many rare goods from distant places are gathered in this country.
Trong nước có hơn 100 ngôi chùa, tăng sĩ hơn 6.000 vị, đa phần tu tập theo giáo pháp phái Chính lượng thuộc Tiểu thừa. Có mấy trăm đền thờ Phạm thiên, người theo ngoại đạo rất đông. Khi đức Như Lai còn tại thế từng đến nước này rất nhiều lần, cho nên vua Vô Ưu đã cho xây dựng tháp ở những nơi Phật dừng chân để ghi lại dấu tích. Chung quanh những nơi đó cũng đều có di tích những nơi ba vị Phật quá khứ ngồi thiền, kinh hành và thuyết pháp.
There are more than a hundred monasteries with over six thousand monks, most of whom study the Dharma of the Hinayana Sammitiya school. Deva temples number several hundreds and the heretics are quite numerous.
When the Tathagata was living in the world he repeatedly visited this country, and King Asoka erected monuments and built stupas to mark the places where the Buddha had sojourned. Sites where the three past buddhas sat, walked up and down, and preached the Dharma are located at intervals.
Đức vua hiện nay hiệu là Đỗ-lỗ-bà-bạt-trá, thuộc dòng sát-đế-lợi, là cháu của vua Thi-la-a-điệt-đa (Giới Nhật) nước Ma-lạp-bà ngày trước, lại cũng là con rể của vua Thi-la-a-điệt-đa nước Yết-nhã-cúc-xà trong hiện tại. Vua tánh tình hấp tấp nóng nảy, mưu trí thiển cận, nhưng rất mực tôn sùng, tin sâu Tam bảo, mỗi năm đều thiết lễ đại hội trong bảy ngày, cúng dường lên chư tăng đủ các món ngon vật lạ cùng với ba tấm y và thuốc men cũng như bảy món báu và trân châu bảo vật các loại. Sau khi bố thí hết các loại trân bảo rồi mới dùng tiền chuộc lại với giá cao hơn.
The reigning king, called Dhruvapatu (known as Changrui, “Permanent Acuteness,” in Chinese), is a ksatriya by caste and a nephew of the former King Siladitya of the country of Malava and the son-in-law of the present King Siladitya of the country of Kanyakubja.
[Dhruvapatu] is a hot-tempered man of shallow intellect but he sincerely believes in the Triple Gem. Every year he convokes a great assembly for seven days to offer the best delicious food to the monks and present them with the three types of clerical robes and medicine, as well as the seven kinds of valuable gems and jewels. After presenting the gifts he redeems them with a payment of double their monetary value.
Vua quý trọng người hiền đức, noi theo đạo lý, xem trọng việc học, đối với các bậc cao tăng từ phương xa đến lại càng đặc biệt kính lễ hơn.
He esteems virtue, honors good people, respects the Way, and emphasizes learning. He pays special reverence 936c to eminent monks coming from afar.
Cách kinh thành không xa có một ngôi chùa lớn, do A-la-hán A-chiết-la xây dựng. Các vị Bồ Tát Đức Tuệ, Kiên Tuệ đã từng dừng chân trú ngụ nơi đây, soạn các bộ luận, đều lưu truyền rộng rãi khắp nơi.
Not far from the city is a great monastery built by the arhat Acara, where the bodhisattvas Gunamati and Sthiramati stayed and composed treatises that are widely circulated.
Từ nơi đây đi về hướng tây bắc khoảng 230 km thì đến nước A-nan-đà-bổ-la, thuộc miền Tây Ấn.
From here going northwest for more than seven hundred li, I reached the country of Anandapura (in the domain of West India).
9. Nước A-nan-đà-bổ-la

Nước A-nan-đà-bổ-la chu vi khoảng 652 km. Chu vi kinh thành khoảng 6.5 km. Dân cư đông đúc phồn thịnh, đời sống sung túc giàu có. Nước này không có vua, chịu phụ thuộc nước Ma-lạp-bà. Đất đai, sản vật, khí hậu, văn tự, pháp luật... cũng đều giống như nước Ma-lạp-bà.
Anandapura is more than two thousand li in circuit and its capital city is over twenty li in circuit. It has a large number of wealthy households. It has no sovereign lord and is under the jurisdiction of the country of Malava; its natural products, climatic conditions, language, and laws are similar to those of that country.
Trong nước có mười mấy ngôi chùa, gần 1.000 tăng sĩ, tu tập theo giáo pháp phái Chính lượng thuộc Tiểu thừa. Có mấy chục đền thờ Phạm thiên, các phái ngoại đạo chung sống hỗn tạp.
There are more than ten monasteries with less than a thousand monks, who study the teachings of the Hinayana Sammitiya school. Deva temples are counted by scores and the heretics live together.
Từ nước Phạt-lạp-tỳ đi về hướng tây khoảng 163 km thì đến nước Tô-lạt-sá, thuộc miền Tây Ấn.
From the country of Valabhi going westward for more than five hundred li, I reached the country of Surattha (in the domain of West India).
10. Nước Tô-lạt-sá

Nước Tô-lạt-sá chu vi khoảng 1.300 km. Chu vi kinh thành khoảng 10 km, phía tây giáp sông Mạc-ê. Dân cư đông đúc phồn thịnh, đời sống sung túc giàu có. [Về hành chánh] phụ thuộc nước Phạt-lạp-tỳ. Đất đai khô cằn nhiễm mặn, hoa quả rất ít. Khí hậu nóng lạnh quân bình nhưng có gió mạnh, nhiều lốc xoáy. Phong tục hẹp hòi, tánh người nông nổi, hấp tấp, không ưa thích học các tài nghề.
The country of Surattha is more than four thousand li in circuit and its capital city is over thirty li in circuit, with the Mahi River at its west. It has a large number of wealthy households, and it is under the jurisdiction of the country of Valabhi. The saline soil yields few flowers and little fruit. Although the cold and hot seasons alternate normally the weather is often windy. The people are stingy by custom and frivolous and impetuous by nature. They are not fond of learning
Về tín ngưỡng thì có người tin Phật, cũng có người tin theo tà đạo. Có hơn 50 ngôi chùa với hơn 3.000 tăng sĩ, đa số tu tập theo giáo pháp Đại thừa và Thượng tọa bộ [thuộc Tiểu thừa]. Có hơn 100 đền thờ Phạm thiên, các phái ngoại đạo chung sống hỗn tạp.
and believe in both heterodox and orthodox doctrines. There are more than fifty monasteries with over three thousand monks, most of whom study Mahayana teachings and the theories of the Sthavira school. Deva temples are over a hundred in number and the heretics live together.
Về phía tây có đường biển nên người dân đều tận dụng lợi ích từ biển, lấy việc buôn bán, trao đổi hàng hóa làm nghề nghiệp.
As the country is situated on the way to the West Sea, the inhabitants procure profit from through sea trade and commerce.
Cách kinh thành không xa có núi Úc-thiện-đa. Trên đỉnh núi có một ngôi chùa, kiến trúc phòng ốc, hành lang phần lớn đều đục vào vách núi. Nơi đây cây rừng sầm uất, suối nước bao quanh, là nơi các bậc hiền thánh dừng chân khi dạo chơi, các vị thần tiên thường tụ họp.
Not far from the city is Ujjanta Mountain, and on top is a monastery whose cells and corridors are mostly excavated into the cliffs amid luxuriant trees and meandering streams. This was a place frequented by saints and sages and where divine rsis dwelled.
Từ nước Phạt-lạp-tỳ đi về hướng bắc khoảng 600 km thì đến nước Cù-chiết-la, thuộc miền Tây Ấn.
Going northward from the country of Valabhi for more than one thousand eight hundred li, I reached the country of Gurjara (in the domain of West India).
11. Nước Cù-chiết-la

Nước Cù-chiết-la chu vi khoảng 1.630 km. Kinh thành Tỳ-la-ma-la chu vi khoảng 10 km. Đất đai, sản vật, phong tục đều giống như nước Tô-lạt-sá. Dân cư đông đúc phồn thịnh, đời sống sung túc giàu sang, đa số tin theo ngoại đạo, ít người tin Phật pháp. Chỉ có một ngôi chùa với hơn 100 tăng sĩ, tu tập theo giáo pháp phái Thuyết nhất thiết hữu thuộc Tiểu thừa. Có mấy chục đền thờ Phạm thiên, các phái ngoại đạo sống chung hỗn tạp.
The country of Gurjara is more than five thousand li in circuit and its capital city, called Bhillamala, is over thirty li in circuit. The native products and social customs are the same as those in the country of Surattha. It is densely populated and the people are wealthy and prosperous. Most serve the heretics as their teachers but a few believe in the buddha-dharma. There is one monastery with more than a hundred monks who study the teachings of the Sarvastivada sect of Hinayana Buddhism. There are several tens of deva temples and the heretics live together.
Đức vua thuộc dòng sát-đế-lợi, tuổi vừa đôi mươi, trí dũng cao vời, thâm tín Phật pháp, tánh tình cao thượng, có nhiều tài năng lạ.
The king, a ksatriya by caste, is a young person of sublime wisdom and courage. He deeply believes in the buddha- dharma and is lofty in character, endowed with extraordinary talent.
Từ nơi đây đi về hướng đông nam khoảng 920 km thì đến nước Ổ-xà-diễn-na, thuộc miền Nam Ấn.
From here going southeast for more than two thousand eight hundred li, I reached the country of Ujjayanl (in the domain of South India).
12. Nước Ổ-xà-diễn-na

Nước Ổ-xà-diễn-na chu vi khoảng 1.950 km. Chu vi kinh thành khoảng 10 km. Đất đai, sản vật, phong tục đều giống như nước Tô-lạt-sá. Dân cư đông đúc phồn thịnh, đời sống sung túc giàu có. Có khoảng mấy chục ngôi chùa, đa phần đều đổ nát hư hoại, chỉ còn lại năm ba ngôi. Có hơn 300 tăng sĩ, tu tập theo cả Đại thừa và Tiểu thừa. Có mấy chục đền thờ Phạm thiên, các phái ngoại đạo chung sống hỗn tạp. Đức vua thuộc giai cấp bà-la-môn, học rộng các sách tà đạo, không tin Phật pháp.
The country of Ujjayanl is more than six thousand li in circuit and its capital city is over thirty li in circuit. The natural products and social customs are the same as in the country of Surattha. It is densely populated and the people are wealthy and prosperous. There are several tens of monasteries, most of which are dilapidated; only three to five remain intact. There are over three hundred monks who study and practice the teachings of both the Mahayana and Hinayana schools. There are several tens of deva temples and the heretics all live together. The king, a brahman by caste, is well read in heterodox books and does not believe in the right Dharma.
Cách thành không xa có một ngọn tháp, là nơi vua Vô Ưu [thuở xưa] xây dựng địa ngục.
Not far from the city is a stupa built to mark the place where King Asoka created a hellish prison.
Từ nơi đây đi về hướng đông bắc khoảng 325 km thì đến nước Trịch-chỉ-đà, thuộc miền Nam Ấn.
From here going northeast for more than one thousand li, I reached the country of Zhizhituo (in the domain of South India).
13. Nước Trịch-chỉ-đà

Nước Trịch-chỉ-đà chu vi khoảng 1.300 km. Chu vi kinh thành khoảng 4.7-5 km. Đất đai màu mỡ, trồng trọt phát triển tốt, thích hợp với các giống đậu, lúa mạch và có nhiều loại cây ăn trái. Khí hậu điều hòa dễ chịu, tính người hiền lương nhu thuận.
The country of Zhizhituo is more than four thousand li in circuit and its capital city is fifteen or sixteen li in circuit. The soil is fertile and crops are abundant. It is good for growing pulse and wheat and there are plenty of flowers and fruit. The climate is pleasant and the people are of a benign and affable disposition.
Người dân đa phần tin theo ngoại đạo, ít người tin kính Phật pháp. Có mấy chục ngôi chùa nhưng rất ít tăng sĩ. Có khoảng hơn 10 đền thờ Phạm thiên, tín đồ ngoại đạo hơn ngàn người.
Most of them believe in heterodoxy and a few respect the buddha-dharma. There are several tens of monasteries but few monks. Deva temples are over ten in number and there are more than a thousand heretics (priests).
Đức vua thuộc giai cấp bà-la-môn, dốc lòng tin Tam bảo, tôn trọng người có đức hạnh, những người học rộng hiểu nhiều ở các nơi khác đa phần đều tụ tập về đây.
The king is a brahman by caste, earnestly believes in the Triple Gem, and esteems people of virtue. Many learned scholars of various places assemble in this country.
Từ nơi đây đi về hướng bắc khoảng 290 km thì đến nước Ma-ê-thấp-phạt-la-bổ-la, thuộc miền Trung Ấn.
From here going northward for more than nine hundred li, I reached the country of Mahesvarapura (in the domain of Central India).
14. Nước Ma-ê-thấp-phạt-la-bổ-la

Nước Ma-ê-thấp-phạt-la-bổ-la chu vi khoảng 980 km. Chu vi kinh thành khoảng 6.5 km. Đất đai, sản vật, phong tục đều giống như nước Ổ-xà-diễn-na. Người dân tôn kính ngoại đạo, không tin Phật pháp. Có mấy chục đền thờ Phạm thiên, đa phần là của phái ngoại đạo Đồ hôi. Đức vua thuộc chủng tộc bà-la-môn, đối với Phật pháp không tin kính nhiều.
The country of Mahesvarapura is more than three thousand li in circuit and its capital city is over thirty li in circuit. The natural products and social customs are similar to those of the country of Ujjayani. The people venerate heretics and do not believe in the buddha-dharma. There are several tens of deva temples, mostly belonging to the ash-smearing ascetics. The king is a brahman by caste and does not respect the buddha-dharma very much.
Từ nơi đây quay trở lại nước Cù-chiết-la, rồi theo hướng bắc sẽ vào vùng hoang vu hiểm trở, bãi cát mênh mông, đi hơn 600 km, qua sông lớn Tín-độ thì đến nước Tín-độ, thuộc miền Tây Ấn.
From there I returned to the country of Guijaia and going northward again, through wilderness and dangerous desert for more than one thousand and nine hundred li and crossing the great Sindhu River, I reached the country of Sindhu (in the domain of West India).
15. Nước Tín-độ

Nước Tín-độ chu vi khoảng 2.300 km. Kinh thành Tỳ-thiêm-bà-bổ-la có chu vi khoảng 10 km. Đất đai thích hợp với việc trồng các giống lúa, lúa mạch rất tốt. Nơi đây xuất khẩu các loại vàng, bạc, hợp kim đồng. Về chăn nuôi thì thích hợp nuôi trâu bò, dê, lạc đà, lừa và những loài vật tương tự. Giống lạc đà ở đây thấp bé, chỉ có một bướu trên lưng. Nước này sản xuất nhiều muối đỏ, có màu sắc như đá đỏ, cùng với các loại muối trắng, muối đen, muối đá trắng, các nước khác phương xa đến [mua về] dùng làm thuốc.
The country of Sindhu is more than seven thousand li in circuit and its capital city, Vichavapura, is over thirty li in circuit. The land is good for growing cereals and millet and wheat are abundant. It produces gold, silver, and brass and it is suitable for rearing cattle, sheep, camels, mules, and other domestic animals. The camels are small in size and have only one hump. It produces plenty of red salt, the color of red rock, while its white and black salt and white rock salt are used as medicine by people in distant foreign countries.
Người dân tính tình cứng rắn nhưng bộc trực, thẳng thắn, hay đấu tranh, ưa phỉ báng, học hành không được rộng khắp nhưng tin sâu Phật pháp. Có mấy trăm ngôi chùa với hơn 10.000 tăng sĩ, tất cả đều tu học theo giáo pháp của phái Chính lượng thuộc Tiểu thừa, nhìn chung đều lười nhác buông thả, giới hạnh không nghiêm trì. Nhưng cũng có những người tinh tấn, chuyên cần, hiền thiện, sống ẩn cư một mình nơi u tịch, giữa rừng sâu núi thẳm, ngày đêm không biếng trễ, đa phần đều được chứng thánh quả. Có hơn 30 đền thờ Phạm thiên, các phái ngoại đạo chung sống lẫn lộn.
The people are violent but upright by nature and are pugnacious and abusive. In learning they do not aim at becoming erudite but they deeply believe in the buddha-dharma. There are several hundred monasteries with more than ten thousand monks, all of whom study the teachings of the Sammitiya school of Hinayana Buddhism. They are mostly indolent people with a corrupt character. The good and assiduous monks live apart in quiet and secluded mountains and forests, and many of them, working hard day and night, realize sainthood. There are more than thirty deva temples and the heretics live together.
Đức vua thuộc chủng tộc thủ-đà-la, tánh tình thuần hậu chân chất, tôn kính Phật pháp. Ngày xưa đức Như Lai từng nhiều lần đi đến nước này, nên vua Vô Ưu đã xây dựng mấy chục ngọn tháp ở những nơi có thánh tích. Ngài Đại A-la-hán Ổ-ba-cúc-đa cũng từng đến đây nhiều lần, giảng pháp mở đạo. Những nơi ngài đã từng đến đều được ghi lại dấu tích, hoặc xây dựng chùa, hoặc xây dựng tháp, có rất nhiều nơi san sát gần nhau, chỉ có thể nói lược qua như vậy.
The king, a siidra by caste, is a man of simplicity and honesty and he respects the buddha-dharma. Formerly the Buddha visited this country several times and therefore King Asoka built several tens of stupas at the holy sites. The great arhat Upagupta visited this country many times to preach the Dharma to guide the people. At all the places where he sojourned monasteries, stupas, or both have been erected as monuments to mark the sites, of which I had scant information.
Trong khoảng hơn ngàn dặm dọc theo bờ sông Tín-độ, nằm xen trong những vùng ao hồ đầm lầy có hàng trăm ngàn hộ dân sinh sống. Những cư dân này tánh tình cứng rắn mạnh mẽ, thường xuyên giết hại [động vật], lấy việc chăn nuôi trâu bò làm nghề nghiệp sinh sống. Những người này không phân biệt nam nữ, sang hèn, tất cả đều cạo tóc, mặc áo cà-sa giống như người xuất gia nhưng lại sống như người thế tục. Họ bám chấp nhận thức hẹp hòi, phỉ báng, bài bác Đại thừa.
In a district of slopes and marshes extending to more than a thousand li beside the Sindhu River there live several hundred, nearly a thousand, families of ferocious people who made slaughtering their occupation and sustain themselves by rearing cattle, without any other means of living. All the people, male or female and regardless of nobility or lowliness, shave off their hair and beards and dress in religious robes. They thus give the appearance of being bhiksus (and bhiksimis) while engaging in secular affairs. They persistently hold Hinayana views and slander Mahayana teachings.
Đọc trong các ghi chép xưa thấy nói rằng, thuở xưa ở đất này cư dân tính tình độc ác tàn nhẫn, quen làm những sự hung bạo. Có một vị A-la-hán thương xót sự điên đảo sa đọa của họ, vì muốn hóa độ nên bay trên không trung mà đến, hiện các phép đại thần thông, khiến họ nhìn thấy xưa nay ít có để họ tin nhận, rồi mới dần dần dùng lời dạy dỗ, dẫn dắt. Những người dân này đều vui mừng cung kính, nguyện vâng theo lời chỉ bảo răn dạy. Vị A-la-hán biết tâm họ đã quy thuận, liền cho thọ tam quy y, dứt lòng hung bạo, không còn giết hại sinh mạng nữa. Tất cả đều cạo tóc, mặc áo cà-sa hoại sắc, cung kính tu hành theo giáo pháp.
I heard some elderly people say that in the old days the people of this place were cruel and evil by nature. An arhat took pity on them in their degenerate state and came flying through the air in order to edify them. He manifested great supernatural powers and performed wonders to induce their faith. Through his gradual teaching the people respected him with delight and were willing to accept his instructions. Knowing that the people had become obedient, the arhat told them to take refuge in the Triple Gem, quenched their ferocity, and stopped them from killing living beings. They shaved off their hair, put on religious robes, and respectfully practiced the instructions of the Dharma.
Từ đó đến nay trải qua nhiều đời, thời thế có nhiều thay đổi, những người hiền thiện ngày càng hiếm hoi, trong khi thói xấu [trước đây] chưa dứt hết, nên [người dân nơi đây] tuy vẫn còn mặc áo cà-sa nhưng không còn giữ giới và làm việc thiện nữa. Cứ như vậy mà truyền lại đến con cháu, lâu ngày quen dần thành thói tục [hung bạo].
After a long time had passed and there were changes in the world, however, they became imperfect in doing good deeds and returned to their evil habits.
Although they dress in religious robes they do not observe the disciplinary rules, nor practice good deeds. The custom [of wearing robes] has been handed down from generation to generation and has become a prevailing tradition.
Từ nơi đây đi về hướng đông khoảng 290 km, qua sông Tín-độ đến bờ phía đông là nước Mậu-la-tam-bộ-lô, thuộc miền Tây Ấn.
From there going east for more than nine hundred li, I crossed the Sindhu River, reached the east bank, and arrived in the country of Miilasthanapura (in the domain of West India).
16. Nước Mậu-la-tam-bộ-lô

Nước Mậu-la-tam-bộ-lô chu vi khoảng 1.300 km. Chu vi kinh thành khoảng 10 km. Dân cư đông đúc phồn thịnh, đời sống sung túc giàu có. [Về hành chánh] phụ thuộc nước Trách-ca. Ruộng đất màu mỡ, khí hậu điều hòa, phong tục chân chất ngay thẳng. Người dân hiếu học, kính trọng người đức hạnh, đa số thờ phụng thiên thần, ít người tin vào Phật pháp.
The country of Miilasthanapura is more than four thousand li in circuit and its capital city is over thirty li in circuit. The country is densely populated with wealthy families and is subject to the country of Takka. The soil is fertile and the climate is mild and good for agriculture. The people are honest and upright; they like learning and esteem virtue. Most of them worship heavenly deities but a few believe in the buddha-dharma.
Nơi đây có hơn 10 ngôi chùa, đa phần đều đã hư hoại đổ nát. Có rất ít tăng sĩ, sự tu học không chuyên nhất [theo bộ phái nào]. Có 8 đền thờ Phạm thiên, các phái ngoại đạo chung sống hỗn tạp. Có một đền thờ thần mặt trời, trang hoàng cực kỳ tráng lệ, tượng thần được đúc bằng vàng ròng, nghiêm sức bằng kỳ trân dị bảo, phảng phất vẻ linh thiêng, tiềm ẩn nhiều thần bí. Các nhạc công nữ thay phiên nhau tấu nhạc không dứt, đèn đuốc thắp sáng suốt cả đêm ngày, hương hoa cúng dường không dứt. Các vị vua và những nhà giàu có ở khắp năm vùng Ấn Độ, người nào cũng đến đây hiến cúng trân bảo, xây dựng các nhà làm phúc, chu cấp thuốc men, đồ ăn uống cho những người nghèo khổ, bệnh tật. Người từ các nước khác đến đây cầu nguyện thường lên đến cả ngàn người. Chung quanh bốn phía đền thờ đều có ao hồ hoa trái, cảnh sắc thật đáng thưởng ngoạn.
There are more than ten monasteries, mostly dilapidated, with few monks who do not specialize in the theories of any particular school. There are eight deva temples and the heretics live together.
There is a beautifully decorated Temple of the Sun God. The image of the god is made of gold and adorned with precious ornaments. It has spiritual perception and the power of penetration and its divine merits protect all secretly. Female musicians play music incessantly and candles are kept burning day and night. Incense and flowers are always offered without interruption. The kings and grand people of all the five parts of India come here to give alms of jewels and valuables and they have established resthouses 937c to distribute food, drink, and medicine for the relief of the poor and sick.
There are always a thousand people coming from different countries to say prayers. Around the temple there are ponds and flowery woods that provide a very delightful resort.
Từ nơi đây đi về hướng đông bắc khoảng 230 km thì đến nước Bát-phạt-đa, thuộc miền Bắc Ấn.
From there going northeast for more than seven hundred li, I reached the country of Parvata (in the domain of North India).
17. Nước Bát-phạt-đa

Nước Bát-phạt-đa chu vi khoảng 1.630 km. Chu vi kinh thành khoảng 6.5 km, dân cư đông đúc phồn thịnh. [Về hành chánh] phụ thuộc nước Trách-ca. Nơi đây trồng nhiều giống lúa mùa sớm và rất thích hợp với lúa mạch. Khí hậu điều hòa dễ chịu, phong tục chân chất, thẳng thắn. Người dân tánh tình nóng nảy, hấp tấp, nói năng thô bỉ, học hỏi sâu rộng các tài nghề.
The country of Parvata is more than five thousand li in circuit and its capital city is over twenty li in circuit. The country is densely populated and is subject to the country of Takka. It yields plenty of dry rice and the soil is good for growing pulse and wheat. The climate is mild and pleasant and the people are honest and upright by custom, though hot-tempered by nature; they use vulgar words in their speech. Their learning is deep and broad
Về tín ngưỡng thì có người tin Phật, cũng có người tin theo tà đạo. Có hơn 10 ngôi chùa, tăng sĩ hơn 1.000 vị, tu tập theo cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa. Có bốn ngọn tháp do vua Vô Ưu xây dựng. Có 20 đền thờ Phạm thiên, các phái ngoại đạo chung sống hỗn tạp.
and they believe in both heterodoxy and orthodoxy. There are more than ten monasteries with over a thousand monks who study and practice the teachings of both the Mahayana and Hinayana schools. There are four stupas built by King Asoka. Deva temples number twenty and the heretics live together.
Kế bên kinh thành có một ngôi chùa lớn, có hơn 100 tăng sĩ, tất cả đều tu học theo giáo pháp Đại thừa. Đây là nơi ngày xưa luận sư Thận-na-phất-đát-la soạn bộ luận thích Du-già-sư-địa. Chùa này cũng là nơi xuất gia của hai vị luận sư Hiền Ái và Đức Quang. Chùa đã bị lửa trời đốt cháy nên giờ đây hoang tàn đổ nát.
Near the city there used to be a great monastery with over a hundred monks, all of whom studied Mahayana teachings. This is the place where the sastra master Jinaputra (meaning “Son of Victory”) composed the Commentary on the Yogacarabhumi-sastra, and it is also where the sastra masters Bhadraruci and Gunaprabha became monks. This great monastery was reduced to ruins by fire from heaven.
Từ nước Tín-độ đi về hướng tây nam khoảng 490-520 km thì đến nước A-điểm-bà-sí-la, thuộc miền Tây Ấn.
Going southwest from the country of Sindhu for one thousand and five or six hundred li, I reached the country of Audumbatira (in the domain of West India).
18. Nước A-điểm-bà-sí-la

Nước A-điểm-bà-sí-la chu vi khoảng 1.630 km. Kinh thành Khiết-tế-thấp-phạt-la chu vi khoảng 10 km, vị trí lệch về miền tây, giáp sông Tín-độ và gần biển. Nhà cửa xây dựng trang hoàng đẹp đẽ và có nhiều trân bảo quý giá. Gần đây không có vua nên phụ thuộc nước Tín-độ. Đất đai thấp và nhiễm mặn, bỏ hoang cỏ mọc đầy, khai khẩn làm ruộng rất ít, tuy cũng có đủ lúa thóc, đặc biệt lúa mạch rất tốt. Khí hậu hơi lạnh, có gió mạnh. Nơi đây thích hợp chăn nuôi các loài trâu bò, dê, lạc đà, lừa... Tánh người nóng nảy, hấp tấp, không thích học tập. Ngôn ngữ chỉ hơi khác đôi chút với miền Trung Ấn. Phong tục thuần hậu, chân chất, kính trọng tôn sùng Tam Bảo.
Audumbatira is more than five thousand li in circuit and its capital city, Kacchesvara, is over thirty li in circuit. It is situated in the remote western region near the Sindhu River, close to the great sea. The houses are beautifully decorated and there are many jewels and gems. In recent years the country has had no sovereign king and is subordinate to the country of Sindhu. The land is low and moist and the soil is saline; wild weeds grow profusely and few fields are cultivated. Although the country produces all kinds of cereals, pulse and wheat are particularly abundant. The climate is somewhat cold and hurricanes blow violently. Cattle, sheep, camels, mules, and the like are reared. The people are hot-tempered by nature and do not like learning. Their language is slightly different from that of Central India and they are by custom simple and honest and respect the Triple Gem.
Có hơn 80 ngôi chùa với hơn 5.000 tăng sĩ, đa phần tu học theo giáo pháp phái Chính lượng thuộc Tiểu thừa. Có 10 đền thờ Phạm thiên, phần lớn là nơi trú ngụ của phái ngoại đạo Đồ hôi. Trong thành có một đền thờ Đại Tự Tại Thiên, đình mái điêu khắc trang trí công phu, tượng thiên thần linh ứng. Những người ngoại đạo phái Đồ hôi vào ở bên trong.
There are more than eighty monasteries with over five thousand monks, most of whom study the teachings of the Sammitfya school of Hinayana Buddhism. There are ten deva temples, mostly inhabited by ash-smearing ascetics. In the city is a temple of Mahesvara adorned with engravings and the image of the god has spiritual influence. It is frequented by ash-smearing ascetics.
Ngày xưa đức Như Lai từng nhiều lần đến nước này thuyết pháp độ người, dẫn dắt làm lợi ích cho muôn người, cho nên vua Vô Ưu đã xây dựng 6 ngọn tháp ở những nơi có thánh tích.
In the old days the Tathagata visited this country on several occasions to preach the Dharma to convert the people, guiding ordinary people and benefiting the secular inhabitants. Thus King Asoka built six stupas at the holy sites.
Từ nơi đây đi về hướng tây khoảng 600 km thì đến nước Lang-yết-la, thuộc miền Tây Ấn.
From here going west for less than two thousand li, I reached the country of Lahgala (in the domain of West India).
19. Nước Lang-yết-la

Nước Lang-yết-la, bốn phía đông, tây, nam, bắc đều [có đường biên giới] dài mấy ngàn dặm. Kinh thành Tốt-đồ-lê-thấp-phạt-la chu vi khoảng 10 km. Đất đai màu mỡ, các giống lúa tốt tươi. Khí hậu, phong tục đều giống như nước A-điểm-bà-sí-la. Dân cư đông đúc phồn thịnh, có nhiều trân bảo quý giá. Nước này nằm bên bờ biển, là ngõ vào nước Tây Nữ. Hiện tại không có vua nên [những người có thế lực đều] dựa vào địa hình mà chiếm cứ lãnh thổ riêng. Họ không nghe lệnh nhau nhưng chịu phụ thuộc nước Ba-lạt-tư. Chữ viết về đại thể cũng giống như Ấn Độ nhưng ngôn ngữ thì có khác biệt đôi chút. [Về tín ngưỡng] thì có người tin Phật, cũng có người tin theo tà đạo.
The country of Lahgala is several thousand li on each of the four sides and its capital city, Sthurisvara (?), is thirty li in circuit. The land is fertile and crops are abundant. The climate and social customs are the same as in the country of Audumbatira. It is a populous country and rich in precious jewels and gems. Situated at the seaside, it is on the way to the Women’s Country. It has no supreme ruler; in each valley the people have their own leaders who are independent of one another, though all are subject to the country of Parsa. Their written language is generally the same as that of India but their spoken language differs slightly. The people believe in both heterodoxy and orthodoxy.
Có hơn 100 ngôi chùa, tăng sĩ hơn 6.000 vị, tu tập theo cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa. Có mấy trăm đền thờ Phạm thiên, tín đồ phái ngoại đạo Đồ hôi rất đông. Trong thành có đền thờ Đại Tự Tại Thiên rất trang nghiêm tráng lệ, là nơi thờ phụng của phái ngoại đạo Đồ hôi.
There are over one hundred monasteries with more than six thousand monks who study and practice both Mahayana and Hinayana teachings. There are several hundred deva temples and ash-smearing heretics are extremely numerous. Inside the city is a magnificent and beautifully decorated temple of Mahesvara, which is held in great esteem by the ash-smearing heretics.
Về hướng tây bắc của nước này là nước Ba-lạt-tư, tuy không thuộc Ấn Độ nhưng nằm cạnh đường đi nên cũng ghi vào. Trước đây gọi nước Ba Tư là gọi tắt.
Going northwest from there one would reach the country of Parsa. (Though it is not in the domain of India I passed by it and put it here as an appendix. It was formerly known as Bosi in abbreviation.)
20. Nước Ba-lạt-tư

Nước Ba-lạt-tư chu vi mấy chục ngàn dặm. Kinh thành Tô-lạt-tát-thảng-na chu vi khoảng 13 km. Đất đai rộng lớn chia thành nhiều vùng, nên khí hậu [mỗi vùng] cũng khác biệt nhau, nhưng nói chung đều ấm áp. Người dân dẫn nước vào làm ruộng, cuộc sống sung túc giàu có. Nơi đây sản xuất vàng, hợp kim đồng, pha lê, thủy tinh, các loại trân bảo quý hiếm. [Ngoài ra còn có các nghề thủ công như] dệt các loại gấm, vải mịn, thảm... Nơi đây có nhiều ngựa hay và lạc đà. Trong việc mua bán sử dụng loại tiền lớn đúc bằng bạc.
The country of Parsa is several myriad li in circuit and its capital city, Surasthana, is over forty li in circuit. Since the territory is vast the climate differs at various locales; generally speaking, it is warm. Water is channeled to irrigate the fields and the people are wealthy and prosperous. The country produces gold, silver, brass, quartz, crystal, and other precious and unusual substances. Large pieces of brocade, fine ramie cloth, woolen carpets, and the like are exquisitely woven. There are many good horses and camels. Large silver coins are used for currency.
Tánh người thô bạo nóng nảy, phong tục không lễ nghĩa. Văn tự, ngôn ngữ không giống với các nước khác. Người dân không giỏi các môn tài nghệ nhưng có nhiều nghề thủ công, sản phẩm làm ra đều được các nước chung quanh đánh giá cao. Chế độ hôn nhân hỗn tạp [trong cùng huyết thống]. Người chết phần lớn là vất xác, [không chôn]. Người ở đây thân hình cao lớn, cắt tóc để lộ đỉnh đầu, dùng áo da thú, y phục nói chung may bằng gấm, vải bông. Các gia đình đều phải nộp thuế, mỗi cá nhân nộp bốn đồng tiền [đúc bằng] bạc.
The people are hot-tempered by nature and have no etiquette by custom. Their spoken and written languages differ from those of other countries. There are no scholars or artists but there are many skillful artisans whose products are much valued by the people of neighboring countries. They practice mixed marriage and corpses are mostly discarded. They are tall and stout in stature and crop their hair short to expose the top of the head. They wear clothes made of fur, ramie, and colored cotton. A household tax is levied at the rate of four silver coins per head.
Có rất nhiều đền thờ Phạm thiên, là nơi thờ phụng của các tín đồ phái ngoại đạo Đề-na-bạt. Chỉ có vài ba ngôi chùa, tăng sĩ mấy trăm vị, thảy đều tu tập theo giáo lý phái Thuyết nhất thiết hữu, thuộc Tiểu thừa. Hiện nay, bình bát của đức Phật Thích-ca [để lại] đang được lưu giữ trong vương cung của nước này.
There are numerous deva temples, highly honored by the heretics of Dinapati (“Lord of the Day,” i.e., the sun). There are two or three monasteries with a few hundred monks, all of whom study the teachings of the Sarvastivada school of Hinayana Buddhism. The almsbowl of Sakya Buddha is kept in the palace of the country.
Miền đông nước Ba-lạt-tư có thành Hạc-mạt. Bên trong Phần nội thành không rộng nhưng thành ngoài có chu vi hơn 20 km. Dân cư đông đúc, đời sống sung túc giàu có.
In the eastern part of the country is the city of Ormus; its inner city is not wide while the outer city is more than sixty li in circuit. The inhabitants are numerous and wealthy.
Phía tây bắc giáp với nước Phất-lẫm, đất đai phong tục đều giống với nước Ba-lạt-tư. Hình thể con người và ngôn ngữ thì có phần khác biệt. Nơi đây có nhiều trân bảo, đời sống cũng sung túc giàu có.
The northeast region borders on the country of Hrum, whose topography and social customs are the same as in Parsa, but the features of the people and their language differ. It is also a wealthy country, possessing plenty of jewels and gems.
Phía tây nam nước Phất-lẫm là nước Tây Nữ nằm trên đảo giữa biển, chỉ toàn phụ nữ, không có nam giới. Nước này có rất nhiều trân bảo quý giá, [về hành chánh] phụ thuộc nước Phất-lẫm. Mỗi năm vua nước Phất-lẫm đều cho một số đàn ông đến nước này để giao phối. Tục lệ của nước này nếu sinh ra con trai thì không được giữ lại.
Southwest of the country of Hrum is the Women’s Country, which is an island. There are only female inhabitants there, without a single man. It produces various valuable goods and is a dependency of Hrum. The king of Hrum sends men to mate with the female inhabitants every year, as it is their custom not to bring up any male baby born to them.
Từ nước A-điểm-bà-sí-la đi về hướng bắc khoảng 230 km thì đến nước Tý-đa-thế-la, thuộc miền Tây Ấn.
Going northward from the country of Audumbatira for more than seven hundred li, I reached the country of Patasila (in the domain of West India).
21. Nước Tý-đa-thế-la

Nước Tý-đa-thế-la chu vi khoảng 980 km. Chu vi kinh thành khoảng 10 km, dân cư đông đúc phồn thịnh. Nước không có vua, chịu phụ thuộc nước Tín-độ. Đất đai nhiều cát và nhiễm mặn, gió rét lạnh và thổi mạnh. Trồng được nhiều lúa mạch, ít hoa quả. Phong tục hung ác tàn bạo. Ngôn ngữ khác với miền Trung Ấn. Người dân không ưa chuộng việc học các tài nghề nhưng có niềm tin thuần thành.
The country of Patasila is more than three thousand li in circuit and its capital city is over twenty li in circuit. It is well populated but without a sovereign lord and is subject to the country of Sindhu. The land is sandy and salty and chilly winds blow hard. There is plenty of pulse and wheat but few flowers or fruit. The people are rustic and hot-tempered by nature and their language differs from that of Central India. They are not fond of learning the arts but they have pure faith.
Trong nước có hơn 50 ngôi chùa với hơn 3.000 tăng sĩ, tu tập theo giáo pháp phái Chính lượng thuộc Tiểu thừa. Có hơn 20 đền thờ Phạm thiên, hết thảy đều là tín đồ ngoại đạo Đồ hôi.
There are more than fifty monasteries with over three thousand monks, all of whom study the teachings of the Sammitiya school of Hinayana Buddhism. Deva temples number more than twenty, all belonging to the ash-smearing heretics.
Về phía bắc kinh thành khoảng 4.7-5 km, trong khu rừng lớn có một ngọn tháp, cao khoảng 60-70 mét do vua A-dục xây dựng, bên trong có xá-lợi Phật, đôi khi tỏa chiếu hào quang. Thuở xưa [tiền thân] đức Như Lai làm một vị tiên, bị một ông vua làm hại tại đây.
In a large wood fifteen or sixteen li north of the city there is a stupa, several hundred feet high, built by King Asoka. It contains a relic bone that occasionally emits a bright light. This is the place where the Tathagata, as a rsi in a previous life, was killed by a king.
Từ nơi đây đi về hướng đông không xa có một ngôi chùa cổ, thuở xưa do ngài Đại A-la-hán Đại Ca-đa-diên-na xây dựng. Bên cạnh có ngọn tháp ghi dấu di tích nơi bốn vị Phật quá khứ từng ngồi thiền và kinh hành.
Not far to the east from here is an old monastery built by the great arhat Mahakatyayana. Beside it stupas were built to mark sites where the four past buddhas sat and walked up and down.
Từ nơi đây đi về hướng đông bắc khoảng 98 km thì đến nước A-bổn-đồ, thuộc miền Tây Ấn.
From here going northeast for more than three hundred li, I reached the country of Avanda (in the domain of West India).
22. Nước A-bổn-đồ

Nước A-bổn-đồ chu vi khoảng 780-810 km. Chu vi kinh thành khoảng 6.5 km. Nước không có vua nên chịu phụ thuộc nước Tín-độ. Đất đai thích hợp việc trồng lúa, đặc biệt lúa mạch phát triển rất tốt. Hoa quả ít, cây cỏ thưa thớt. Khí hậu lạnh, nhiều gió. Tánh người hung bạo, cứng cỏi, nói năng chân chất, đơn giản, không xem trọng việc học nghề, đối với Tam bảo có lòng tin thuần thành.
The country of Avanda is two thousand and four or five hundred li in circuit and its capital city is over twenty li in circuit. It has no sovereign lord and is subject to the country of Sindhu. The soil is good for growing crops and pulse and wheat are particularly abundant. There are not many flowers or much fruit and vegetation is sparse. The climate is windy and cold and the people are rustic and violent by nature. Speaking a simple and plain language, they do not uphold learning but they fix their minds on and have pure faith in the Triple Gem.
Trong nước có hơn 20 ngôi chùa với hơn 2.000 tăng sĩ, đa phần tu tập theo giáo pháp của phái Chính lượng thuộc Tiểu thừa. Có 5 đền thờ Phạm thiên, đều là của phái ngoại đạo Đồ hôi.
There are over twenty monasteries with more than two thousand monks, most of whom study the teachings of the Sammitiya school of Hinayana Buddhism. There are five deva temples belonging to the ash-smearing heretics.
Cách kinh thành không xa về phía đông bắc, trong khu rừng trúc lớn có dấu tích còn lại của một ngôi chùa. Đây là nơi ngày xưa đức Như Lai phương tiện cho phép các vị tỳ-kheo được mang giày làm bằng da thú.
In a great bamboo grove not far away from the city are the ruins of an old monastery. This is the place where in olden days the Tathagata gave permission to the bhiksus to wear jifuxi (boots).
Bên cạnh đó có ngọn tháp do vua Vô Ưu xây dựng, nền móng đã nghiêng lún nhưng vẫn còn cao hơn 33 mét. Gần đó có một tinh xá, trong có tượng Phật đứng bằng đá xanh, vào những ngày trai đôi khi tỏa chiếu hào quang.
Beside the ruins is a stupa built by King Asoka. Although the foundation has collapsed the remaining structure is still over a hundred feet high. In a temple beside the stupa a standing image of the Buddha made out of blue stone is enshrined. On fast days it often emits a divine light.
Cách đó về hướng nam hơn 1.300 mét, có một ngọn tháp nằm trong rừng, do vua Vô Ưu xây dựng. Thuở xưa, đức Như Lai dừng nghỉ tại nơi này, đêm ấy quá lạnh, ngài phải đắp cùng lúc cả ba tấm y. Sáng hôm sau liền phương tiện khai mở, cho phép các vị tỳ-kheo được mặc y may bằng nhiều lớp vải.
Further away to the south for over eight hundred paces, in a wood, is a stupa built by King Asoka. Once the Tathagata stayed at this place and because it was a cold night, he covered himself with all three of his robes, one over the other. The following morning he permitted the bhiksus to wear double robes.
Cũng trong khu rừng này, có di tích nơi Phật kinh hành, lại có rất nhiều ngọn tháp nằm san sát gần nhau, đều là những di tích nơi tọa thiền của bốn vị Phật quá khứ. Trong đó có tháp lưu giữ tóc và móng tay của đức Như Lai, vào những ngày trai thường phát ra ánh sáng.
In this wood is a site where the Buddha walked up and down. There are also other stupas built close to each other to mark the places where the four past buddhas sat and walked back and forth. Hair and nail relics of the Tathagata are preserved in one of the stupas and they often emit a bright light on fast days.
Từ nơi đây đi về phía đông bắc khoảng 290 km thì đến nước Phạt-lạt-noa, thuộc miền Tây Ấn.
From here going northeast for more than nine hundred li, I reached the country 938c of Varnu (in the domain of West India).
23. Nước Phạt-lạt-noa

Nước Phạt-lạt-noa chu vi khoảng 1.300 km. Chu vi kinh thành khoảng 6.5 km, dân cư đông đúc phồn thịnh, [về hành chánh] phụ thuộc nước Ca-tất-thí. Đất đai nhiều núi rừng, các giống lúa gieo trồng theo thời vụ. Khí hậu hơi lạnh, phong tục hung bạo cứng rắn, người dân tánh khí nóng nảy, hấp tấp, chí hướng thấp hèn. Ngôn ngữ hơi giống với miền Trung Ấn. Về tín ngưỡng thì có người tin Phật, cũng có người tin theo tà đạo. Người dân không ưa thích việc học các tài nghề.
The country of Varnu is more than four thousand li in circuit and its capital city is over twenty li in circuit. It is densely populated and is subject to the country of Kapisi. The land is mountainous with many woods and crops are sown in season. The climate is some-what cold and the people are rustic and violent by nature and vulgar and mean in disposition. Their language is rather similar to that of Central India. They believe in both heterodoxy and orthodoxy and are not fond of learning.
Trong nước có mấy chục ngôi chùa, đa phần đều đã hoang tàn đổ nát. Có hơn 300 vị tăng sĩ, hết thảy đều tu tập theo giáo pháp Đại thừa. Có 5 đền thờ Phạm thiên, đa số đều là phái ngoại đạo Đồ hôi.
There are several tens of monasteries, mostly dilapidated, with more than three hundred monks, all of whom study Mahayana teachings. There are five deva temples with many ash-smearing heretics.
Cách kinh thành không xa về phía nam có một ngôi chùa cổ, thuở xưa đức Như Lai từng thuyết pháp ở đây, chỉ bày khai ngộ, mang lại lợi lạc và niềm vui cho muôn người. Bên cạnh có di tích nơi bốn vị Phật quá khứ kinh hành và ngồi thiền.
Not far away to the south of the city there is an old monastery. In the past the Tathagata preached the Dharma at this place to teach the people for their welfare and enlightenment. Beside it are sites where the four past buddhas sat and walked up and down.
Theo lời dân địa phương thì phía tây nước này tiếp giáp với nước Kê-khương-na, nằm ở vùng bình nguyên giữa các núi lớn. Nước Kê-khương-na sống biệt lập tự chủ, không có vua. Người dân chăn nuôi nhiều dê, ngựa, có giống ngựa hay, thân hình cao lớn và xinh đẹp, các nước khác rất ít có, nên những nước chung quanh đều xem là ngựa quý.
I heard some local people say that the west side of the country borders the country of Kaikanan, which is located among large mountains in which there are chieftains in the different valleys but no sovereign ruler. It has many sheep and horses; the good horses are particularly big as they are of a rare breed that is greatly valued by neighboring regions.
Về hướng tây bắc, vượt các ngọn núi lớn rồi băng qua bình nguyên mênh mông, qua những thành, ấp nhỏ, đi khoảng 652 km thì ra khỏi phạm vi Ấn Độ, đến nước Tào-củ-trá, cũng gọi là nước Tào-lợi.
From here again going northwest, crossing great mountains and wide rivers and passing small towns on a journey of more than two thousand li, I came out of the domain of India and reached the country of Jaguda (also known as the country of Caoli).
End of Fascicle XI of The Great Tang Dynasty Record of the Western Regions

Hình minh họa: Đồ họa thể hiện hành trình qua 23 nước trong Quyển 11 - Tây Vực Ký



    « Xem chương trước «      « Sách này có 15 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này

_______________

TỪ ĐIỂN HỮU ÍCH CHO NGƯỜI HỌC TIẾNG ANH

DO NXB LIÊN PHẬT HỘI PHÁT HÀNH




BẢN BÌA CỨNG (HARDCOVER)
1200 trang - 54.99 USD



BẢN BÌA THƯỜNG (PAPERBACK)
1200 trang - 45.99 USD



BẢN BÌA CỨNG (HARDCOVER)
728 trang - 29.99 USD



BẢN BÌA THƯỜNG (PAPERBACK)
728 trang - 22.99 USD

Mua sách qua Amazon sẽ được gửi đến tận nhà - trên toàn nước Mỹ, Canada, Âu châu và Úc châu.

XEM TRANG GIỚI THIỆU.





Quý vị đang truy cập từ IP 3.92.91.54 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Dinhvinh1964 Rộng Mở Tâm Hồn Thích Nguyên Mạnh Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Huyền Rộng Mở Tâm Hồn Thích Quảng Ba Rộng Mở Tâm Hồn T TH Rộng Mở Tâm Hồn Phan Huy Triều Rộng Mở Tâm Hồn Pascal Bui Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thiên Rộng Mở Tâm Hồn Viên Hiếu Thành Rộng Mở Tâm Hồn Tam Thien Tam Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Sĩ Long Rộng Mở Tâm Hồn Tri Huynh Rộng Mở Tâm Hồn caokiem Rộng Mở Tâm Hồn hoangquycong Rộng Mở Tâm Hồn Lãn Tử Rộng Mở Tâm Hồn Ton That Nguyen Rộng Mở Tâm Hồn ngtieudao Rộng Mở Tâm Hồn Chúc Huy Rộng Mở Tâm Hồn Trương Quang Quý Rộng Mở Tâm Hồn Lê Quốc Việt Rộng Mở Tâm Hồn Du Miên Rộng Mở Tâm Hồn Quang-Tu Vu Rộng Mở Tâm Hồn phamthanh210 Rộng Mở Tâm Hồn An Khang 63 Rộng Mở Tâm Hồn Vạn Phúc Rộng Mở Tâm Hồn zeus7777 Rộng Mở Tâm Hồn Trương Ngọc Trân Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Tiến Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Ngọc Rộng Mở Tâm Hồn Thiện Diệu Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Văn Minh Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Âm Phúc Thành Rộng Mở Tâm Hồn Thiền Khách Rộng Mở Tâm Hồn nước Rộng Mở Tâm Hồn Bui Tuyet Lan Rộng Mở Tâm Hồn Xuân Thôn Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Độ Rộng Mở Tâm Hồn Pháp Tâm Rộng Mở Tâm Hồn Yduongvan Rộng Mở Tâm Hồn Trí Tuệ Từ Bi ... ...

Việt Nam (236 lượt xem) - Hoa Kỳ (63 lượt xem) - Australia (38 lượt xem) - Saudi Arabia (2 lượt xem) - Anh quốc (1 lượt xem) - ... ...