Nhắc lại Ngài Quán Âm gặp vị tăng Tây Tạng ở Cửu Hoa Sơn, vị này đã tâm
sự với Ngài rằng vì mình không nói được tiếng Trung Hoa nên không giáo
hóa được chúng sinh ở Trung độ, được Bồ Tát hóa hiện tướng “bảo mã” để
khuyến khích ngài đi chu du bốn biển đồng thời học tiếng Trung hoa. Vị
tăng ấy đã nói:
– Ở Trung độ nạn đao binh không ngừng hoành hành, nhưng tâm người thì
lại hiểm ác, đệ tử thuyết Pháp cho họ, họ không nghe thì thôi, còn cho
là đệ tử thuộc hạng tà môn ngoại đạo nên cười chê chỉ trích và đâu đâu
đệ tử cũng bị đối xử một cách khinh bỉ. Đệ tử hoàn toàn có thể nhẫn nhục
chịu đựng hết những điều đó, song chỉ thương cho những chúng sinh ấy,
phải đương đầu với ma nạn, sống trong biển khổ mà không thấy đó là nguy
hiểm, vẫn cố chấp mê muội không chịu tỉnh ngộ.
Bồ Tát Quán Âm vốn có tôn chỉ là “tầm thanh cứu khổ”, vì thế trong khi
chờ đợi vị tăng Tây Tạng nói được tiếng Trung Hoa để hoằng dương Phật
Pháp, Ngài quyết định vân du ở Trung độ để dẫn dắt cho chúng sinh hướng
thiện và thoát khổ.
Ngài bèn dặn dò Long Nữ và Thiện Tài ở lại coi sóc Phổ Đà Sơn, còn mình
thì hóa thành một bà lão, một mình xuống vùng Trung Nguyên. Trên đường
bà vừa đi vừa xin ăn, thấy rằng ở chốn ấy người lương thiện thì rất
hiếm, còn người ngu ác thì lại đầy dẫy. Người ta không tin vào quả báo,
ham tiền ham lợi, chiếm đoạt giết chóc lẫn nhau, chỉ chú ý tới chuyện
trước mắt mà không cần biết tới hậu quả về sau. Nhất là dân chúng thuộc
những vùng quê xa xôi thì lại càng ngu muội tối tăm, gặp đủ thứ khổ nạn
thảm cảnh mà không chịu thức tỉnh. Vì thế Ngài Quán Âm quyết định giảng
Pháp cho những người này trước.
Một hôm, Ngài Quán Âm đến vùng Trung Châu, chọn một động đá trên núi
Thái Thất làm nơi hiển hóa. Đêm ấy, Ngài ứng mộng cho dân chúng các vùng
lân cận, nói với họ rằng:
– Vài ngày nữa Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ đi ngang chỗ này để điểm hóa cho
những người có nhân duyên, cứu họ thoát tất cả mọi khổ ách. Các vị hãy
lưu tâm chờ đợi, đừng bỏ lỡ cơ hội Bồ Tát đứng trước mặt mà không thấy.
Nhưng thấy hay không là tùy nơi lòng thành tâm của mỗi người, chỉ cần có
lòng thành là thế nào cũng gặp.
Nói xong, Ngài hiện ra bảo tướng trang nghiêm, một lúc sau, bảo tướng từ
từ biến mất. Hôm sau mọi người gặp nhau, ai cũng bàn tán về giấc mộng
đêm qua. Thì ra ai cũng thấy đồng một giấc mộng, vì thế mọi người đều
kinh ngạc, và ai cũng mong muốn, chờ đợi Bồ Tát giáng lâm.
Nhưng họ không biết Bồ Tát sẽ hóa thân là người nào để điểm hóa, cho nên
người này nhìn người kia bèn nghi là Bồ Tát hóa thân, tạo ra những ngộ
nhận khá khôi hài. Mấy ngày trôi qua rồi mà chưa ai phác giác ra Bồ Tát
đã hóa thân ở đâu.
Thật ra, Bồ Tát Quán Âm hóa thân làm bà lão ăn xin, đã đến đây từ mấy
ngày nay rồi. Lúc ấy đương gặp nạn hạn hán, thật lâu rồi trời không mưa,
lúa mạ trong ruộng hầu như đã cháy khô, mùa màng không gặt hái được gì,
trước mắt dường như thiên tai sắp giáng xuống, dân chúng thành trên xóm
dưới ai nấy đều khủng hoảng. Khi họ thấy bà lão ăn xin thì họ bảo năm
nay mất mùa, gặp cảnh thiên tai, chính mình còn đang buồn sầu vì cơm
không có mà ăn, lấy đâu dư cơm cho người ăn xin!
Bà lão chần chừ nấn ná trước những cửa nhà như thế thật lâu mà cũng
không xin được một miếng ăn nào. Cuối cùng bà không khỏi thở dài, tự nói
cho mình nghe:
– Ôi thật đang tiếc, hạn hán tuy là một thiên tai nhưng cũng là do con
người tự chiêu cảm lấy mà thôi! Giá như dân chúng ở đây biết kính trọng
trời đất, biết làm việc thiện một chút, bớt việc giết chóc, quy y cửa
Phật thì trời đâu có giáng tai họa xuống cho họ như thế này! Thật đáng
thương cho tôi, một bà già đói khổ, tới đây xin ăn khắp cả mười nhà rồi
mà không xin được lấy một hạt thóc hay nửa hạt gạo! Ở đây thiên hạ thật
là không biết hướng thiện. Người mà không biết hướng thiện thì tránh làm
sao được tai họa?
Lúc ấy có một ông lão tên là Lưu Thế Hiển, nghe được những lời than thở
của bà lão cảm thấy có gì kỳ lạ, hơn nữa cũng thấy những lời bà nói thật
là có lý. Bất giác ông nghe tâm động, tự nghĩ: “Có khi nào chính bà cụ
này là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát chăng?”. Mấy hôm nay thiên hạ xôn
xao tìm kiếm, nhưng không hề có lấy một người chú ý tới người đàn bà già
yếu đến từ phương xa này, chỉ vì ai cũng có tâm bợ đỡ người quyền thế!
Ông bèn đến chào bà lão:
– Thưa cụ, những gì cụ nói tôi đã nghe thấy, lời cụ nói rất là có lý.
Đúng như cụ nói, ở đất này người ta không biết hướng thiện nên mới chiêu
cảm thiên tai, nhưng không biết thiên tai này có tránh được không? Nói
cách khác, nếu ai cũng chịu hối lỗi và cải thiện, chẳng biết có cứu vãn
được tình thế hay không?
Bồ Tát Quán Âm đáp:
– Lòng trời vốn rất nhân từ, tâm phúc thiện mạnh gấp ba tâm muốn trừng
phạt kẻ ác. Chỉ cần người ta thật sự chịu thành tâm hối lỗi thì làm gì
mà trời không dung tha, tai họa trước mắt có gì đâu mà không cứu được?
Lưu Thế Hiển nghe những lời ấy rồi, đoán chắc rằng bà cụ già này là Bồ
Tát Quán Âm bèn quỳ xuống đất lễ lạy và nói:
– Bồ Tát trên cao, tạ ơn Bồ Tát hiển hóa thị hiện, đệ tử phàm phu mắt
thịt không biết được từ dung, suýt nữa không thấy được Thái Sơn trước
mắt! May nghe được những lời giáo huấn của Bồ Tát, tâm trí được mở mang,
nay con quỳ xin Bồ Tát dùng chút pháp lực giáng xuống một cơn mưa lớn để
cứu đất này khỏi nạn hạn hán. Đệ tử nguyện tạo chùa, cúng dường Bồ Tát
và khuyến khích ngu dân một lòng hướng thiện, quy y Phật Pháp. Con van
xin Bồ Tát từ bi ban ơn!
Nói xong, ông dập đầu lạy không ngừng.
Bồ Tát Quán Âm nghe Lưu Thế Hiển nói thì rất hoan hỉ, trả lời rằng:
– Còn có người có lòng như ông, biết chí thành cầu nguyện mà không vì
lợi riêng, thật là hiếm có! Chỉ vì dân chúng ở đất này thật sự quá cứng
đầu khó đổi, bị tai họa đâu có gì là lạ! Thôi thì để ta làm cho họ mắt
thấy tai nghe cũng được. Ngày mai giờ ngọ ba khắc, ta quyết định hiển
hóa ở trên núi Thái Thất, thi triển pháp lực làm một cơn mưa để cứu đất
này khỏi nạn hạn hán, nhờ ông đi nói với tất cả mọi người ở đây, bảo họ
đến xem, cho họ mắt thấy Phật Pháp vô biên thì lòng tin của họ mới chắc
chắn, sau này ông có lấy lời thiện mà khuyến dụ thì cũng dễ cảm hóa họ
hơn.
Lưu Thế Hiển lại cúi xuống bái tạ, nhưng Bồ Tát đã biến mất rồi.
Lưu Thế Hiển thuật lại cho mọi người nghe những lời nói của Bồ Tát Quán
Âm, nhưng ai cũng nửa tin nửa ngờ:
– Giữa thanh thiên bạch nhật Bồ Tát xuất hiện, sao không ai thấy mà chỉ
mình ông thấy?
Lưu Thế Hiển đáp:
– Bà già ôm bát đi xin ăn hồi nãy chính là hóa thân của Bồ Tát đó!
Mọi người nghe nói bà già ôm bát xin ăn ban nãy chính là Quán Thế Âm Bồ
Tát thì lấy làm kinh dị, họ tự giận mình có mắt như mù không nhận ra mặt
Phật, cơ duyên ngay trước mắt mà lại bỏ lỡ. Lại có người tự trách sao đã
không chịu bố thí lại còn bất kính đối với Bồ Tát nên ăn năn hối hận vô
cùng. Lưu Thế Hiển an ủi:
– Bồ Tát có tôn chỉ là dùng từ bi để cứu khổ, Ngài sẽ không bắt tội các
vị những chuyện lặt vặt như thế đâu, chỉ cần về sau các vị phát lòng tin
chân thành là đủ. Ngày mai giờ ngọ ba khắc Bồ Tát sẽ hiện chân thân bảo
tướng của Ngài, thi triển pháp lực làm một trận mưa, lúc ấy tất cả đều
có thể thấy được từ nhan của Ngài.
Nghe thế mọi người lộ vẻ vui mừng, lập tức đi truyền bá tin này khắp nơi
và chỉ trong khoảnh khắc, toàn thành đều biết. Một truyền mười, mười
truyền trăm, rồi thì những làng mạc thành thị xung quanh cũng được nghe
tin này luôn. Nghe nói Bồ Tát Quán Âm sắp đến đất này cầu mưa, ai nấy
đều đổi buồn làm vui, chờ đợi Bồ Tát hiển linh.
Sáng sớm tinh sương ngày hôm sau, dân chúng toàn vùng, nông dân ngừng
cày ruộng, phụ nữ ngừng dệt vải, tiệm buôn ngừng bán hàng, ai cũng đốt
nến thắp hương, chân thành đảnh lễ, chờ đợi giờ ngọ ba khắc Quán Thế Âm
Bồ Tát thị hiện Pháp thân. Nam nữ già trẻ ai cũng ngưỡng cổ nhìn lên
trời, đến chớp mắt cũng không dám chớp lấy một lần!
Gần đúng chính ngọ, họ thấy trên đỉnh núi Thái Thất có một áng mây trắng
nhẹ nhàng bay lên, rồi từ từ, chầm chậm tỏa rộng ra, càng lúc càng rộng.
Đột nhiên giữa áng mây trắng có một con đường thông thẳng lên tới đỉnh
núi Thái Thất và kim thân Bồ Tát Quán Âm cao một trượng sáu xuất hiện
trên đầu núi. Đầu Ngài đội khăn, thân khoác cà sa, tay cầm một cái bình
bằng ngọc màu trắng ngà, trong bình đựng cam lồ và cắm một nhành dương
liễu. Ngài đi chân không, đứng trên một tảng đá bằng ánh sáng.
Mọi người nhìn thấy Ngài bèn quỳ xuống lễ lạy, niệm lớn “Đại từ đại bi
Quán Thế Âm Bồ Tát”. Bồ Tát Quán Âm cầm nhánh liễu chấm vào nước cam lồ,
hướng về các thửa ruộng ở bốn phương đông tây nam bắc phất tay rảy nước.
Lạ thay, mây mù lập tức tụ họp trong không trung, một cơn mưa lớn như
xối đổ xuống không ngừng trong cả tiếng đồng hồ, sau đó mây mới tan và
mưa mới ngừng, hơi nước bốc lên mù mịt. Trong cơn mưa rào ấy, hình ảnh
Bồ Tát từ từ ẩn mất.
Nhờ cơn mưa rào trừ được nạn hạn hán cứu trăm họ trong một vùng đất rất
lớn khỏi cảnh thiên tai, nên hình ảnh Bồ Tát Quán Âm từ bi đã khắc sâu
trong tâm những người dân ở đấy. Quả nhiên, sau đó họ trở thành những
người chân thành tin kính Phật Pháp.
Lưu Thế Hiển bèn quyên tiền xây một ngôi miếu ngay tại chỗ mà đức Quán
Âm đã hiện thân trên đỉnh núi Thái Thất, trong miếu có tạc tượng Quán Âm
Đại Sĩ, ngày ngày dâng cúng hương hoa. Còn động đá nơi hóa thân Bồ Tát
đã dừng chân nay cũng đổi tên là động Quán Âm, hãy còn lưu lại cho đến
bây giờ.
Đây là lần thứ nhất Bồ Tát Quán Âm hiện thân ở Trung độ dưới Đại Bi
tướng, đó chính là Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát vậy.
Bồ Tát Quán Âm hiển hóa lần thứ nhất tay cầm tịnh bình dương liễu cho
nên thế gian còn gọi lần hiển hóa ấy là “Dương Liễu Quán Âm”. Đây là
hình ảnh Bồ Tát Quán Âm được lưu hành nhiều nhất nên đã trở thành phổ
biến, dân chúng còn gọi là “Thánh Quán Âm”.