Nếu người nói nhiều kinh, không hành trì, phóng dật; như kẻ chăn bò người, không phần Sa-môn hạnh.Kinh Pháp cú (Kệ số 19)
Nhà lợp không kín ắt bị mưa dột. Tâm không thường tu tập ắt bị tham dục xâm chiếm.Kinh Pháp cú (Kệ số 13)
Người hiền lìa bỏ không bàn đến những điều tham dục.Kẻ trí không còn niệm mừng lo, nên chẳng bị lay động vì sự khổ hay vui.Kinh Pháp cú (Kệ số 83)
Chớ khinh tội nhỏ, cho rằng không hại;
giọt nước tuy nhỏ, dần đầy hồ to!
(Do not belittle any small evil and say that no ill comes about therefrom. Small is a drop of water, yet it fills a big vessel.)Kinh Đại Bát Niết-bàn
Dầu nói ra ngàn câu nhưng không lợi ích gì, tốt hơn nói một câu có nghĩa, nghe xong tâm ý được an tịnh vui thích.Kinh Pháp cú (Kệ số 101)
Người ngu nghĩ mình ngu, nhờ vậy thành có trí. Người ngu tưởng có trí, thật xứng gọi chí ngu.Kinh Pháp cú (Kệ số 63)
Lửa nào sánh lửa tham? Ác nào bằng sân hận? Khổ nào sánh khổ uẩn? Lạc nào bằng tịnh lạc?Kinh Pháp Cú (Kệ số 202)
Kẻ thù hại kẻ thù, oan gia hại oan gia, không bằng tâm hướng tà, gây ác cho tự thân.Kinh Pháp Cú (Kệ số 42)
Ai dùng các hạnh lành, làm xóa mờ nghiệp ác, chói sáng rực đời này, như trăng thoát mây che.Kinh Pháp cú (Kệ số 173)
Ai sống quán bất tịnh, khéo hộ trì các căn,
ăn uống có tiết độ, có lòng tin, tinh cần,
ma không uy hiếp được, như núi đá, trước gió.Kinh Pháp Cú (Kệ số 8)
Nhằm tạo điều kiện để tất cả độc giả đều có thể tham gia soát lỗi chính tả trong các bản kinh Việt dịch, chúng tôi cho hiển thị các bản Việt dịch này dù vẫn còn nhiều lỗi. Kính mong quý độc giả cùng tham gia soát lỗi bằng cách gửi email thông báo những chỗ có lỗi cho chúng tôi qua địa chỉ admin@rongmotamhon.net
Font chữ:
Quyển thứ mười bảy
Nhiếp tụng năm trong biệt môn bốn:
Chiên trà tô đà dy,
Ðại y tạm thời dụng,
Sư mộ bà-tô-đạt
Thủ bát kỷ vật tưởng,
A thị đa hộ nguyệt
Tặc tưởng thủ tự y.
Tụng này cùng phần quảng thích của giới trộm cắp không khác nên chẳng nêu ra nữa, tìm theo đó thì thấy.
Nhiếp tụng sáu trong biệt môn bốn:
Trư giá đa la thọ
Mao chiên hắc hỷ viễn,
An trí đao tử kim
Bất dụng lưu ly khí.
* Duyên xứ như trước, bấy giờ vào năm bị đói, kẻ trộm bắt heo của người, đưa đến rừng rậm giết để ăn thịt, vứt bỏ xương và móng chân.
Thông thường, vào sáng sớm Lục chúng thức dậy leo lên lầu chùa để xem bốn phía. Nếu thấy từ xa có khói, bầy quạ bay loạn xuống, họ liền đích thân hay bảo nhau đến xem. Thấy trong rừng có khói bốc lên và quạ bay xuống nên chúng bảo nhau:
- Nan Ðà, Ô Ba Nan Ðà nơi ấy chắc có món ăn được, chúng ta nên đến đó, có thể được món gì.
Ðến nơi, thấy xương và móng chân heo nên họ bảo nhau:
- Vật phẩn tảo này cũng đủ để dùng, nên nấu lên ăn.
Họ tự nấu lên.
Bấy giờ, chủ của heo tìm theo dấu vết, đi đến nơi, thấy họ nấu thịt nên bảo:
-Thánh giả! Mặc y phục của bậc đại tiên mà làm việc phi pháp này.
Ðáp:
- Hiền thủ! Nếu ta được phép sát sinh, chẳng lẽ không thể lấy được thịt ngon của con nai, con mang để ăn hay sao mà lại chịu lấy xương, móng heo để tự nấu ăn. Kẻ trộm đã lấy thịt ngon ăn rồi, xương thừa đầu móng là vật họ vứt bỏ, thuộc về vật phẩn tảo, vậy ta có tội gì?
Ðáp:
- Thánh giả! Nhưng người xuất gia không nên làm việc khả ố như vậy.
Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Không nên lấy vật phẩn tảo như vậy. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.
* Duyên xứ như trước. Có kẻ trộm, lấy mía của người, ăn khúc giữa vứt khúc gốc và ngọn. Ði đường, Lục chúng trông thấy, bảo nhau:
- Tôn giả, có nhiều vật phẩn tảo hãy cùng thu nhặt.
Họ liền nhặt lấy.
Chủ mía theo dấu, đến nơi, thấy Lục chúng cùng nhau thu thập khúc mía thừa, nên nói:
- Thánh giả! Mặc y phục bậc đại tiên mà làm việc phi pháp.
Ðáp:
- Hiền thủ! Nếu ta được phép lấy trộm, chả lẽ không lấy được mía ngon để tùy ý ăn hay sao mà lại lấy vật của người vứt bỏ. Mía này do trộm đem đến, ăn phần ngon vứt phần dỡ. Chúng ta nhặt lấy nào có lỗi gì?
Ðáp:
- Thánh giả! Ðây là việc tạo ra sự chê trách, chẳng phải việc làm của người xuất gia.
Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Không nên thu nhặt vật phẩn tảo như vậy. Ai vi phạm, bị tội vượt pháp.
* Duyên xứ như trước. Có kẻ trộm lấy trái đa-la đem vào rừng chọn trái ngon vứt trái dở. Nhân đi đến đó, Lục chúng thấy vật vứt bỏ này ... như việc lấy mía, cho đến bị người tục chê trách. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Ai lấy như vậy, bị tội vượt pháp.
* Duyên xứ như trước. Trong thành này, một đồng tử bán hương liệu có tấm thảm lông tốt nên yêu quý hơn các vật khác. Một hôm đồng tử bị bệnh, tuy cố trị liệu nhưng vô hiệu, sắp qua đời. Anh ta mời thân tọäc lại, thưa:
- Sau khi tôi chết, không được hỏa thiêu, dùng tấm thảm này quấn xác tôi lại và bỏ vào rừng.
Những thân tộc đang có mặt an ủi:
- Anh không nên sợ, chẳng phải ai bị bệnh cũng đều chết, không bao lâu nữa sẽ bình phục.
Nhưng mạng sống anh ta đã hết nên không giữ được hơi thở. Do quá yêu quý tấm thảm nên sau khi qua đời, đồng tử sinh làm Ðại-anh-quỷ.
Bấy giờ, thân tộc dùng chỉ ngũ sắc trang hoàng xe tang, bọc thây bằng tấm thảm, đưa vào rừng. Bí-sô trông thấy bảo với Bí-sô Hắc Hỷ ở trong Thi Lâm:
- Cụ thọ! Người bán hương liệu bị bệnh vừa chết, thi hài được liệm bằng tấm thảm tốt đẹp rồi bỏ vào rừng, đó là vật phẩn-tảo nên đến lấy dùng.
Nghe vậy, vị ấy vội đi đến Thi Lâm lấy tấm thảm kia. Phi nhân liền làm tử thi đứng dậy giữ chặt lấy tấm thảm, nói:
- Thánh giả Hắc Hỷ, chớ lấy tấm thảm của tôi.
Người sống trong Thi Lâm rất gan dạ, bảo với quỷ:
- Kẻ ngu si, ngươi do tham ái tấm thảm nên sinh vào ngã quỷ, nay lại muốn đi vào địa ngục hay sao, hãy thả ra đi.
Do quá thích tấm thảm nên Hắc Hỷ cùng quỷ giành nhau tấm thảm, dùng chân đạp quỷ ra, giật lấy tấm thảm đem đi, về đến rừng Thệ Ða. Quỷ thây chết kia càng thêm tức giận chạy theo không bỏ, nói:
- Thánh giả! Hãy trả tấm thảm lại cho tôi.
Bí-sô chẳng thèm để ý đến cứ đi vào chùa.
Nhưng rừng Thệ Ða có nhiều trời, rồng, dược xoa, thiên thần thủ hộ. Quỷ này ít phúc không dám đi vào chỉ đứng ở cửa khóc lóc. Tuy biết, Phật vẫn hỏi A Nan Ðà:
- Vì sao phi nhân khóc lóc trước cửa?
Bạch:
- Bí-sô Hắc Hỷ lấy tấm thảm lông của nó.
Với suy nghĩ: "Xem phi nhân này quá luyến ái tấm thảm, nếu không lấy được, tất thổ huyết nóng ra chết", Phật bảo A Nan Ðà:
- Ông hãy đến bảo Hắc Hỷ trả lại tấm thảm cho phi nhân. Nếu không được trả lại tất thổ huyết chết. Khi trả tấm thảm, nên bảo nó đi trước, đến rừng của nó, bảo:
- Ngươi hãy nằm xuống, rồi phủ tấm thảm lên.
A Nan Ðà theo đúng lời dạy, bảo Bí-sô Hắc Hỷ (đầy đủ như nói ở trên) ... cho đến dùng tấm thảm phủ lại.
Nghe bảo, Hắc Hỷ nói với A Nan Ðà:
- Như lời Phật dạy, tôi không dám chống lại.
Bảo với quỷ:
- Kẻ yêu quý tấm thảm hãy đi trước đi.
Ðến Thi Lâm, bảo nằm xuống, quỷ vâng lời nằm xuống, Hắc Hỷ lấy tấm thảm phủ lên. Bấy giờ, phi nhân dùng chân đá Bí-sô Hắc Hỷ. Nhờ có sức mạnh nên Hắc Hỷ thoát chết. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Bí-sô không được tùy ý tự lấy y trong Thi Lâm, cũng không nên trả lại y như vậy. Khi lấy y nên từ chân hướng về đầu, khi trả y nên từ đầu hướng về chân. Bí-sô nên biết, y trong Thi Lâm có năm lỗi. Ðó là:
1. Màu sắc xấu.
2. Hôi thúi.
3. Không chắc.
4. Nhiều rận.
5. Bị dạ-xoa giữ.
Nếu y của tử thi nào không bị thương tổn thì không được lấy.
Nghe Phật chế như vậy, Lục chúng liền dẫn chó theo. Thấy vậy, kẻ bất tín chê trách, hỏi:
- Thánh giả! Ngài dẫn chó ra rừng vắng, chẳng lẽ để giết!
Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Không được dẫn chó đi theo.
Họ dùng dao làm thương tổn tử thi để lấy y. Phật dạy:
- Không nên như vậy, nếu có trùng kiến đã làm hư hoại tử thi, mới được lấy y.
Ðược y rồi, họ lấy mặc tùy tiện. Phật dạy:
- Không nên mặc liền, hãy để lại trong rừng chừng bảy tám ngày, chờ gió nắng cho khô đã, sau khi giặt nhuộm rồi mới mặc.
Họ liền mặc vào chùa, đi nhiễu làm lễ tháp. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Có những pháp cho Bí-sô ở Thi Lâm thi hành, Ta sẽ quy chế:
- Bí-sô ở Thi Lâm mặc y của người chết, không được vào chùa, không được lễ tháp. Nếu muốn lễ tháp phải ở xa bên ngoài một tầm. Không được xử dụng tăng phòng, giường và phu cụ. Không được vào ngồi trong chúng. Không được tuyên thuyết pháp nghĩa cho người đời. Không được đến nhà thế tục.
Nếu có việc cần phải đến, nên đứng ngoài cửa, chủ mời vào, nói: - Tôi ở Thi Lâm.
Nếu họ nói: - Hôm nay con được phúc lợi lớn, may mắn được thánh giả hơn cả nhiều người đi đến nhà con.
Nghe như vậy, nên vào nhà nhưng không ngồi giường tòa.
Nếu họ mời ngồi, thì đáp: - Tôi ở Thi Lâm.
Nếu họ nói khó được gặp thì nên ngồi, chớ nên nghi hoặc. Bí-sô ở Thi Lâm nào không theo lời dạy này, bị tội vượt pháp.
* Duyên xứ như trước. Các Bí-sô vứt bỏ dao cạo, kim may bừa bãi làm cho bị hư sét. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Không được để bừa bãi, nên cất trong tấm nỉ găm kim.
Bí-sô không biết nên làm thế nào. Phật dạy:
- Dùng mảnh nỉ hay vải lụa thoa sáp nóng lên, gói dao hay kim bên trong thì không bị sinh rỉ sét.
* Duyên khởi như trước. Bí-sô ny Thổ La Nan Ðà trước đây có cất giữ bát bằng lưu-ly giả. Có vị ny bị khát, muốn tìm nước uống nên đến chỗ Thổ La, hỏi:
- Thánh giả! Tôi đang bị khát xin cho mượn bát lưu-ly để lấy nước uống.
- Bát đây, cô hãy cầm lấy dùng.
Khi dùng, cô kia làm rơi bát xuống đất bị vỡ. Sau đó, nhớ đến bát cho mượn, Thổ La Nan Ðà đến đòi vị kia:
- Hãy trả bát lại cho tôi.
Ðáp:
- Thánh giả! Tôi lỡ tay làm rơi xuống đất nên bị vỡ, xin làm cái khác trả lại.
- Hãy trả lại tôi vật cũ.
Nhiều lần như vậy, cùng làm phiền nhiễu nhau nên thưa với các Bí-sô. Bí-sô bạch Phật. Phật suy nghĩ:
- Ny uống nước bằng bát lưu-ly nên có lỗi như vậy.Vậy nên ny không được dùng bát lưu ly để uống hay ăn. Ai xử dụng như vậy, bị tội vượt pháp.
Nhiếp tụng bảy trong biệt môn bốn:
Tự trung ưng biến họa
Nhiên hỏa tinh tẩy dục,
Bát thủy bất đạp diệp
Liên hài thực bất ưng.
* Duyên xứ như trước. Trưởng giả Cấp Cô Ðộc sau khi cúng vườn chùa, suy nghĩ: "Nếu không tô vẽ thì chẳng trang nghiêm. Nếu Phật cho phép, ta sẽ trang trí, nên đến gặp Phật".
Phật dạy:
- Ðược vẽ tùy ý.
Sau khi được Phật cho phép, trưởng giả sưu tập các màu sắc và gọi thợ đến, bảo:
- Hãy vẽ trong chùa bằng màu sắc này.
Ðáp:
- Bắt đầu vẽ từ đâu và vẽ hình gì?
- Ta cũng chưa biết.
Ðến hỏi Phật, Phật dạy:
- Trưởng giả! Hai bên cửa nên vẽ hình Dược xoa cầm trượng.
Một bên mặt cửa vẽ sự biến hóa vĩ đại của thần thông. Mặt kia vẽ sự luân hồi trong năm đường sinh tử.
Dưới hiên, vẽ truyện Bản Sinh.
Một bên cửa Phật điện vẽ Dược-xoa cầm vòng hoa.
Tại giảng đường, vẽ vị Bí-sô kỳ túc đang tuyên dương pháp yếu.
Tại nhà ăn, vẽ Dược-xoa cầm bánh.
Cửa kho, vẽ Dược-xoa cầm vật báu.
Nhà chứa nước, vẽ rồng cầm bình nước, mang chuỗi ngọc đẹp.
Nhà tắm, nhà bếp, y vào cách thức trong kinh Thiên-sứ mà vẽ và thêm ít nhiều cảnh biến hóa nơi địa ngục.
Nhà xem bệnh, vẽ hình Như Lai đích thân săn sóc người bệnh.
Nơi đại tiểu tiện vẽ hình tử thi với hình dáng đáng sợ.
Trong phòng ở, nên vẽ bộ xương trắng, đầu lâu.
Nghe dạy xong, trưởng giả làm lễ Phật rồi từ giã, y theo lời dạy vẽ hoàn tất các bức họa.
Bấy giờ, có Bí-sô vô ý, đốt lửa bừa bãi, khói hun lên làm hư các bức họa. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Ta cho phép các Bí-sô làm nhà đốt lửa. Ai cần đốt lửa thì đến đó, nơi khác không được, ai vi phạm bị tội vượt pháp.
Bấy giờ, có người bệnh cần lửa, không dám đốt lửa dưới hiên phòng. Phật dạy:
- Có thể đốt lửa bên ngoài chùa hoặc sân trong của chùa, đợi cháy hết khói mới đem lửa vào.
Duyên xứ như trước. Bí-sô tắm rửa ngay dưới hiên, ẩm ướt làm hư bích họa. Phật dạy:
- Không nên như vậy, ngay trong phạm vi chùa gần một góc, mặt hướng về tượng phật mà tắm rửa, hoặc có thể làm phòng tắm riêng.
Trong phòng tắm có bùn. Phật dạy:
- Xếp gạch làm đường thoát nước, nếu có bất tịnh thì luôn luôn được chảy sạch, hoặc gần ngòi nước để tiện việc tắm rửa.
* Duyên xứ như trước. Trong thành này có một Bà-la-môn. Người con bị bệnh, ông ta đến gặp thầy thuốc, hỏi:
- Con tôi bị bệnh như vậy, mong ngài chữa trị.
Người kia có tín tâm đáp:
- Ngài hãy đến gặp thánh chúng xin nước trong bát, dùng rửa thân thể, tất hết bệnh.
Nghe như vậy, Bà-la-môn liền đi đến vườn Cấp Cô Ðộc. Lục chúng đang ở trước cửa, Ô Ba Nan Ðà thấy Bà-la-môn, bảo:
- Xin chào! Sao ngài ít khi xuất hiện như trăng đầu tháng vậy.
Ðáp:
- Kính lễ thánh giả! Con thật ít đến, nay mới may mắn gặp nhau, nếu thường đến, ngài sẽ xem thường.
Hỏi:
- Ông đến có việc gì?
- Thánh giả, con của con bệnh nặng, đến hỏi thầy thuốc, họ bảo:
- Xin nước trong bát của các thánh giả để tắm thì hết bệnh. Vậy nên con đến xin, mong ngài ban cho.
- Hãy ở đây, ta đi lấy nước cho.
Ô Ba Nan Ðà vào chùa, ăn xong rửa bát, bỏ cơm mỳ rau bánh trái lá ăn thừa vào hòa với nước quậy lên rồi mang ra ngoài, bảo với Bà-la-môn:
- Ðây là nước trong bát, ông hãy lấy dùng.
Ðáp:
- Thánh giả! Con của con thà chết chứ làm sao dùng vật bất tịnh này tắm rửa được?
ÔÂ-Ba Nan Ðà nói:
- Nếu tín tâm của ông thành tựu chắc chắn bệnh của con ông chắc hết.
Bà-la-môn càng thêm khinh khi. Bí-sô bạch Phật. Phật suy nghĩ: "Do đem vật đáng gớm bỏ vào bát nên có lỗi như vậy. Ai làm như vậy, bị tộâi vượt pháp". Nhưng các Bí-sô đưa bát nước cho người có những pháp phải làm, Ta sẽ chỉ dạy, trước hết rửa sạch bát ba lần, đổ nước vào đầy rồi tụng kinh Phật chú nguyện vài lần, sau đó mới đưa cho họ. Ai không làm theo bị tội vượt pháp.
* Duyên xứ như trước. Mỗi khi ăn, các Bí-sô đạp chân lên lá lót bát. Người tục thấy vậy, chê bai:
- Sa môn Thích tử thật không thanh tịnh, đạp lên lá lót bát mà ăn.
Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Bí-sô không nên đạp lên lá mà ăn. Ai làm vậy, bị tội vượt pháp.
Phật tại thành Quảng-Nghiêm.Có Bí-sô khi ăn vẫn mang giày dép. Người tục chê:
- Sa-môn Thích-tử ăn không thanh tịnh.
Phật dạy:
- Khi ăn không nên mang giày dép. Ai làm vậy, bị tội vượt pháp.
Bấy giờ, có người bệnh khi ăn bỏ giày dép ra nên bệnh nặng thêm. Phật dạy:
-Người bệnh khi ăn có thể bỏ giày dép ra rồi đạp chân lên.
Nhiếp tụng tám trong biệt môn bốn:
Vô bát độ đại tặc,
An cư vô y chỉ,
Ngũ niên đồng lợi dưỡng.
Phụ trọng bất ưng vi.
* Duyên khởi tại thành Thất La Phiệt. Ô-Ba-Ðà-Da độ một đệ tử nhưng không cho họ bát. Khi mọi người thọ trai xong, tự rửa bát của mình đặt nơi sạch sẽ, rồi đi kinh hành lễ tháp. Thấy những bát này, người mới xuất gia kia suy nghĩ: "Có bát để không, ta đem đi thọ thực sau đó trả lời".
Người này muốn lấy bát của thượng-tọa A-Nhã-Kiều-Trần-Như. Người khác nói:
- Ðây là bát của bậc Tôn giả, ông không nên lấy.
Lại muốn lấy bát khác của Tôn giả Mã-Thắng, Hiền-Thiện ... Bí-sô hỏi:
- Ông không có bát hay sao?
Ðáp:
- Không có.
- Trước đây, không có bát, ai độ ông xuất gia?
Ðáp:
- Ô Ba-Ðà-Da Ô Ba Nan Ðà độ cho tôi xuất gia.
Bí-sô chê trách trừ kẻ ác hạnh kia ra, ai lại không cho bát mà độ họ xuất gia. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Không được độ người không có bát xuất gia. Ai làm như vậy, bị tội vượt pháp. Phàm muốn độ cho người khác xuất gia, trước phải sắm đủ sáu vật cần dùng là ba y, phu cụ, bát và lưới lược nước.
Cụ thọ Ô-Ba-Ly thưa Thế Tôn:
- Biết họ không có bát mà cho thọ cận-viên có thành cận-viên không?
Phật dạy:
-