Không thể dùng vũ lực để duy trì hòa bình, chỉ có thể đạt đến hòa bình bằng vào sự hiểu biết. (Peace cannot be kept by force; it can only be achieved by understanding.)Albert Einstein

Người thành công là người có thể xây dựng một nền tảng vững chắc bằng chính những viên gạch người khác đã ném vào anh ta. (A successful man is one who can lay a firm foundation with the bricks others have thrown at him.)David Brinkley
Người ta có hai cách để học hỏi. Một là đọc sách và hai là gần gũi với những người khôn ngoan hơn mình. (A man only learns in two ways, one by reading, and the other by association with smarter people.)Will Rogers
Như đá tảng kiên cố, không gió nào lay động, cũng vậy, giữa khen chê, người trí không dao động.Kinh Pháp cú (Kệ số 81)
Nếu bạn không thích một sự việc, hãy thay đổi nó; nếu không thể thay đổi sự việc, hãy thay đổi cách nghĩ của bạn về nó. (If you don’t like something change it; if you can’t change it, change the way you think about it. )Mary Engelbreit
Nếu chuyên cần tinh tấn thì không có việc chi là khó. Ví như dòng nước nhỏ mà chảy mãi thì cũng làm mòn được hòn đá.Kinh Lời dạy cuối cùng
Hạnh phúc không phải là điều có sẵn. Hạnh phúc đến từ chính những hành vi của bạn. (Happiness is not something ready made. It comes from your own actions.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Hãy đặt hết tâm ý vào ngay cả những việc làm nhỏ nhặt nhất của bạn. Đó là bí quyết để thành công. (Put your heart, mind, and soul into even your smallest acts. This is the secret of success.)Swami Sivananda
Ngủ dậy muộn là hoang phí một ngày;tuổi trẻ không nỗ lực học tập là hoang phí một đời.Sưu tầm
Chúng ta phải thừa nhận rằng khổ đau của một người hoặc một quốc gia cũng là khổ đau chung của nhân loại; hạnh phúc của một người hay một quốc gia cũng là hạnh phúc của nhân loại.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Người thực hành ít ham muốn thì lòng được thản nhiên, không phải lo sợ chi cả, cho dù gặp việc thế nào cũng tự thấy đầy đủ.Kinh Lời dạy cuối cùng

Trang chủ »» Danh mục »» »» Tự lực và tha lực trong Phật giáo »» Đức Phật A-di-đà có hay không »»

Tự lực và tha lực trong Phật giáo
»» Đức Phật A-di-đà có hay không


Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục 

       

Tự lực và tha lực trong Phật giáo - Đức Phật A-di-đà có hay không

Font chữ:

Đây là câu hỏi quan trọng đối với rất nhiều Phật tử, nhất là những người đã và đang tu theo pháp môn Tịnh độ nhưng thực sự chưa củng cố được niềm tin, chưa nhận hiểu đầy đủ về pháp môn tu tập của mình. Một Phật tử nào đó đã nêu câu hỏi này với thầy Nhật Từ, và câu trả lời của thầy chắc chắn cũng được nhiều Phật tử khác quan tâm, nên từ tháng 10 năm 2015 đến nay đã có khoảng 7.800 lượt xem. Một số người có thể thỏa mãn với câu trả lời của thầy Nhật Từ, một số khác thì không. Vì thế, họ chuyển đến cho tôi đường link để xem phần trả lời này. Sau khi xem qua, tôi nhận thấy có một số điểm không hoàn toàn tương hợp giữa sự nhận hiểu của riêng tôi đối với kinh A-di-đà và nội dung trả lời của thầy Nhật Từ. Điều này lại liên quan trực tiếp đến ý nghĩa về tha lực đang được bàn đến, nên tôi thấy cần nêu rõ ở đây để cung cấp thêm cho độc giả một số ý kiến tham khảo, qua đó có thể giúp mọi người nhận hiểu đầy đủ và chính xác hơn về những lời Phật dạy. Phần trả lời của thầy Nhật Từ hiện đăng trên trang Thư viện Hoa Sen ở đây.

Tuy nhiên, trước hết chúng tôi xin lưu ý độc giả về những chỉ dẫn của Ban Biên Tập Thư viện Hoa Sen, mà theo chúng tôi có thể xem là những yếu tố căn bản cho một bài viết nghiêm túc:

1. Dùng lời nhu hòa, không chỉ trích cá nhân.
2. Khi phê phán giáo thuyết và phương tiện hành trì của các tông phái, phải dùng kinh điển để củng cố luận điểm phản biện của mình.
3. Chỉ nên luận bàn về pháp, không nên bàn về người.

Đây là 3 tiêu chí mà Ban Biên Tập Thư viện Hoa Sen đã chỉ dẫn, và chúng tôi nhận thấy bài viết của thầy Nhật Từ có những vi phạm rõ rệt sau đây.

Về điều thứ nhất, “không chỉ trích cá nhân”, trong bài có đoạn viết:

“Trên thực tế, cũng khó trách HT. Tịnh Không được vì Hòa thượng không được học Phật pháp tại trường Phật học đến nơi đến chốn, mà chỉ học Phật pháp với cư sĩ Lý Bĩnh Nam. Bản thân cư sĩ Lý Bĩnh Nam cũng không học Phật pháp bài bản ở các trường lớp Phật học. Do đó, những giới hạn về tri thức Phật pháp ở HT. Tịnh Không là điều dễ hiểu và thông cảm được.” (Hết trích)

Việc Hòa thượng Tịnh Không và Cư sĩ Lý Bỉnh Nam có học “đến nơi đến chốn” hay không, rõ ràng không liên quan gì đến nội dung cần trình bày, nên đoạn này hoàn toàn mang ý nghĩa chỉ trích cá nhân.

Về điều thứ hai, “dùng kinh điển để củng cố luận điểm”, hầu như phần lớn các đoạn trình bày trong bài này đều không có dẫn chứng kinh điển. Chúng tôi sẽ làm rõ điều này ở từng nơi cụ thể.

Về điều thứ ba, “chỉ luận về pháp, không bàn về người”, thật ra thì chính đoạn văn ở ví dụ thứ nhất cũng vi phạm cả vào điều thứ ba. Cũng có thể xét thêm đoạn dưới đây:

“Năm 2012, có một lần HT. Tịnh Không bị hớ, vì chủ trương ngày 21/12/2012 là tận thế theo niềm tin mê tín của lịch cổ Maya. Điều này đã khiến cho nhiều người bỏ công ăn việc làm, ngồi ở nhà chờ chết tập thể với những người thân. Vì mặc cảm dân tộc, nhiều người Việt Nam cứ chuộng ngoại, chạy theo Tịnh độ tông cực đoan như vừa nêu, vô tình làm chết đạo Phật Việt Nam.” (Hết trích)

Đoạn này không luận gì về pháp cả, chỉ bàn về người, mà thậm chí là nhiều người. Có bao nhiêu người có thể cảm thấy bị xúc phạm trong đoạn văn này? Và điều đó có cần thiết không?

Đó là một vài nhận định chung. Dưới đây tôi sẽ nêu các ý kiến khác biệt đối với phần nội dung trả lời của thầy Nhật Từ. Xin trích dẫn câu đầu tiên:

“Để thảo luận vấn đề này chúng ta nên phân biệt hai khái niệm ‘Đức Phật lịch sử’ và ‘Đức Phật tôn giáo’.” (Hết trích)

Về Đức Phật lịch sử thì không có gì phải nói, nhưng “đức Phật tôn giáo” là một cách dùng từ ngữ không chuẩn xác và do đó không có nghĩa.

Thứ nhất, khi đặt hai khái niệm này bên nhau, điều tất nhiên sẽ phát sinh hàm nghĩa “Đức Phật lịch sử không phải đức Phật tôn giáo”, vì hai khái niệm đối lập để phân biệt với nhau. Như vậy cũng có nghĩa là đức Phật Thích-ca Mâu-ni không thuộc về tôn giáo (?!!). Nhưng ngài lại chính là người khai sáng đạo Phật, đạo Phật có được trước tiên là từ sự giác ngộ của ngài, vậy có thể nào tách đức Phật Thích-ca Mâu-ni ra khỏi khái niệm tôn giáo được chăng?

Vì thế, khi trong bài viết rằng: “Khái niệm ‘Đức Phật tôn giáo’ phát triển trong giai đoạn Phật giáo Đại thừa phát triển” thì điều đó hoàn toàn không đúng, vì phải nói chính xác là: “Khái niệm ‘Đức Phật tôn giáo’ được phát triển ngay trong bài viết này”. Độc giả có thể kiểm chứng bằng cách đi tìm khái niệm “đức Phật tôn giáo” trong bất kỳ văn bản nào thuộc “giai đoạn Phật giáo Đại thừa phát triển”. Nếu tác giả không đưa ra được bất kỳ văn bản nào có ghi chép khái niệm này trong giai đoạn đó, thì hoàn toàn không thể tùy ý gán ghép một khái niệm nào đó trong quá khứ vào một danh từ mới phát sinh. Điều đó là vi phạm nguyên tắc về học thuật.

Hơn thế nữa, toàn bộ kinh điển Nam truyền cũng như Bắc truyền đều không thấy xuất hiện danh từ “đức Phật tôn giáo” hay bất kỳ danh từ nào khác tương đương với danh từ này. Từ đó, chúng ta có thể kết luận rằng câu nói “khái niệm ‘Đức Phật tôn giáo’ phát triển trong giai đoạn Phật giáo Đại thừa phát triển” là một phát biểu hoàn toàn sai lầm và không có căn cứ.

Thế nhưng, đoạn văn sau đây mới đáng chú ý hơn:

“Ngay cả đức Phật Thích Ca lịch sử họ cũng tô vẽ lên một hình ảnh đức Phật tôn giáo đang đóng kịch (thị hiện). Phật giáo Trung Quốc đặt ra khái niệm “thị hiện”, theo đó đức Phật đóng kịch với vai của vị thánh đã giác ngộ, xuống trời Đâu Suất làm Bồ-tát Hộ Minh, sau đó nhập thai vào thánh mẫu Maya, mấy tuổi đã biết ngồi thiền, 19 tuổi giả vờ làm đám cưới với công chúa Da-du-đà-la, sau đó đi tu, năm năm tìm đạo sai, sáu năm tu tập khổ hạnh sai, rồi giác ngộ ở tuổi 30. Theo thuyết này, toàn bộ giai đoạn từ mới sinh ra cho đến tuổi 30 của đức Phật là đóng kịch, là giả vờ. Đó là quan niệm về đức Phật tôn giáo, hoàn toàn là một sản phẩm ý thức của Đại thừa Trung Quốc, không có trong đạo Phật Đại thừa tại Ấn Độ.” (Hết trích)

Trước hết, nội dung đoạn văn này rất quan trọng, vì liên quan đến một phần Giáo lý quan trọng mà bất cứ người học Phật nghiêm túc nào cũng đều phải tìm hiểu qua: Đó là Giáo lý Tam thân Phật, dạy rằng chư Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân và Hóa thân. Căn cứ nội dung này thì người viết bác bỏ giáo lý Tam thân Phật. Tất nhiên, đó là quyền tự do tin nhận của mỗi người, nhưng nguyên tắc đầu tiên của sự phản bác trong tranh luận là phải nêu ra bằng chứng, dẫn chứng, và nguồn dẫn chứng phải có đủ độ tin cậy, thuyết phục. Theo tiêu chuẩn cơ bản nhất của người Phật tử là phải dựa vào kinh điển. Ở đây, chúng ta hoàn toàn không biết được đoạn văn này đã dựa vào kinh điển nào. Ngược lại, có rất nhiều kinh điển có thể trưng dẫn để chỉ ra điều ngược lại.

Từ điển Phật Quang, trang 2144, mục từ 示現 (thị hiện) cho biết tên Phạn ngữ của từ này là prātihāya và dẫn chứng nhiều kinh luận có đề cập đến khái niệm này, tiêu biểu như Kinh Hoa Nghiêm (quyển 23, bản 60 quyển), Đại thừa A-tì-đạt-ma tạp luận (quyển 4), Câu-xá luận (quyển 2), Trung A-hàm (quyển 35)... ...

Như vậy, qua dẫn chứng kinh luận của từ điển này, chúng ta thấy khái niệm “thị hiện” không thể do Phật giáo Trung Quốc đặt ra, mà họ chỉ tiếp nhận từ kinh điển Phạn ngữ.

Kinh điển Bắc truyền đề cập đến sự thị hiện của chư Phật, Bồ Tát thật quá nhiều, có lẽ hầu hết Phật tử đều biết, như trong các kinh Đại Bát-nhã, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Duy-ma-cật, Đại Bát Niết-bàn, Thắng-man.... Nhưng ngay trong kinh điển Nam truyền thuộc kinh hệ Pali cũng có khái niệm này. Tương Ưng Bộ Kinh, Tập IV, Chương 7 – Tương ưng tâm có đoạn như sau:

“Ngồi một bên, gia chủ Citta nói Tôn giả Mahaka:
- Lành thay, bạch Thượng tọa, nếu Tôn đức Mahaka thị hiện cho con thấy thượng nhân pháp thần thông.
- Vậy này Gia chủ, hãy trải thượng y trong hành lang và rải một bó cỏ.
- Thưa vâng, bạch Thượng tọa.
Gia chủ Citta vâng đáp Tôn giả Mahaka, cho trải thượng y trong hành lang, và rải một bó cỏ.
Rồi Tôn giả Mahaka vào trong tịnh xá, gài then cửa lại, thực hành thần thông lực khiến cho ngọn lửa phun ra từ lỗ ống khóa và giữa các khe cửa, đốt cháy cỏ nhưng không đốt cháy thượng y.”

(Tương Ưng Bộ Kinh – Bản Việt dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu)

Thông qua đoạn kinh văn này, chúng ta hiểu thị hiện có nghĩa là hiển lộ, hiển bày cho người khác thấy được những gì mà nếu không có sự thị hiện thì họ hoàn toàn không thể thấy được. Hiện tượng mầu nhiệm trong đoạn kinh này không thể được nhìn thấy nếu không có sự thị hiện của Tôn giả Mahaka.

Và đây là một đoạn kinh khác:

“Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến vườn Cây Bàng, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nghĩ rằng: "Ta hãy thị hiện thần thông một cách khiến cho các vị Tỷ-kheo ấy đến Ta từng nhóm một hay hai người, với tâm có tội lỗi".
Và các Tỷ-kheo ấy đến Thế Tôn, từng nhóm một hay hai người, với tâm có tội lỗi.”

(Tương Ưng Bộ Kinh – Bản Việt dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu)

Trong đoạn kinh này, sự thị hiện của đức Phật là sử dụng thần thông để khiến cho một sự việc nào đó xảy ra theo ý muốn của ngài.

Như vậy, nhận xét “Phật giáo Trung Quốc đặt ra khái niệm thị hiện” là hoàn toàn không đúng, và tiếp tục căn cứ vào sự không đúng đó để gán ghép rằng “đức Phật đóng kịch với vai của vị thánh đã giác ngộ” thì sự sai lầm lại càng nghiêm trọng. Chúng ta hãy xem kinh điển nói như thế nào về điều này. Kinh Đại Bát Niết-bàn, quyển 4 có đoạn như sau:

“Ta ở trong cõi thế giới tam thiên đại thiên, hoặc trong cõi Diêm-phù-đề thị hiện nhập Niết-bàn, nhưng rốt ráo không chấp giữ Niết-bàn. Hoặc ta ở cõi Diêm-phù-đề thị hiện vào thai mẹ, khiến cha mẹ tưởng rằng ta là con. Nhưng thân này của ta hoàn toàn chẳng do ái dục hòa hiệp mà có thể sanh ra được. Từ vô lượng kiếp đến nay ta đã lìa bỏ ái dục. Thân này của ta tức là Pháp thân, vì tùy thuận thế gian nên thị hiện vào trong bào thai.
Thiện nam tử! Tại cõi Diêm-phù-đề, trong vườn Lam-tì-ni, ta thị hiện sanh ra bởi mẹ là bà Ma-da. Sanh ra rồi, ta liền đi bảy bước về phương đông, nói lên lời này: ‘Trong cõi trời, người, a-tu-la, ta là bậc cao quý hơn hết.’ Cha mẹ, mọi người, chư thiên thấy vậy đều lấy làm kinh dị và vui mừng, cho là việc chưa từng có.
Nhưng ai nấy đều bảo rằng ta vẫn là một hài nhi. Tuy vậy, thân này của ta từ vô lượng kiếp đến nay đã lìa khỏi mọi cách nuôi dưỡng thông thường. Thân Như Lai tức là Pháp thân, chẳng phải do máu thịt, gân, mạch, cốt tủy mà thành. Vì tùy thuận theo pháp thế gian của chúng sanh nên thị hiện làm một hài nhi.”


善男子。我已久 住 是大涅槃種種示現神通變化。於此三千大千世 界百億 日月百億 閻浮提種種示現。如首楞嚴經中廣說。我於三千大千世 界或閻浮提示現涅槃。亦不畢竟取於涅槃。或閻浮提示入 母胎令其父母生我子想。而我此身畢竟不從婬欲和合而得生也。我已久 從無量劫 來離於婬欲。我今此身即是法身隨順世 間示現入 胎。善男子。此閻浮提林微尼園。示現從母摩耶而生。生已即能東行七步唱如是言。我於人天阿修 羅中最尊最上。父母人天見已驚喜生希有心。而諸人等謂是嬰兒。而我此身無量劫 來久離是法。如來身者即是法身。非是肉血筋脈骨髓之 所成立。隨順世 間眾生法故示為嬰兒。

(Đại Chánh tạng, Tập 12, kinh số 374, trang 388, tờ b, dòng thứ 20 – 29 và tờ c, dòng 1 - 5)

Kinh Đại Bát Niết-bàn là một bộ kinh lớn, được ngài Đàm-vô-sấm mang từ Ấn Độ sang Trung Hoa và tự mình chuyển dịch sang Hán ngữ sau khi học chữ Hán. Đồng thời còn có ngài Pháp Hiển là người Trung Hoa sang tận Ấn Độ thỉnh kinh này về và chuyển dịch sang chữ Hán với tên kinh Đại Bát Nê-hoàn. Như vậy, nội dung kinh hoàn toàn không thể do người Trung Quốc “đặt ra” được. Nhưng qua đoạn kinh văn này, chúng ta có thể thấy ý nghĩa thị hiện được trình bày rất rõ ràng, trong khi đoạn văn của thầy Nhật Từ thì gọi đó là đóng kịch, là giả vờ... và cuối cùng đi đến kết luận đó là “một sản phẩm ý thức của Đại thừa Trung Quốc, không có trong đạo Phật Đại thừa tại Ấn Độ”.

Thiết tưởng với những đoạn kinh văn trích dẫn từ cả kinh điển Nam truyền lẫn Bắc truyền như trên, thì độ chính xác và tin cậy của những thông tin phán xét mà thầy Nhật Từ đưa ra đã có thể được độc giả tự mình nhận định.

Cho dù câu hỏi “Đức Phật A-di-đà có hay không?” được nêu ra khá rõ ràng, nhưng thay vì trả lời thẳng vấn đề là “có” hay “không”, chúng ta đều thấy là các phần “dọn đường” vừa qua lại nghiêng nhiều về phê phán chỉ trích nhưng không nêu dẫn chứng. Đoạn tiếp theo nhắc đến kinh A-di-đà, vẫn tiếp tục sự phê phán thay vì giảng giải.

“Từ đức Phật tôn giáo đó Trung Quốc mở rộng thêm số lượng các đức Phật như Tam Thiên Phật, Vạn Phật... Đây là điều do Phật giáo Trung Quốc đặt ra, không có trong Phật giáo Đại thừa ở Ấn Độ. Đức Phật A-di-đà là một trong các đức Phật tôn giáo, xuất phát từ Ấn Độ và được Trung Quốc đề cao. Kinh A-di-đà có gốc rễ từ tiếng Sanskrit tại Ấn Độ, điều đó không ai phủ định. Hình ảnh đức Phật A-di-đà trong kinh A-di-đà là một biểu tượng sâu sắc.” (Hết trích)

“Đức Phật tôn giáo đó” sẽ là một danh xưng khó hiểu đối với nhiều người, nên trong ngữ cảnh này tưởng cũng nên nhắc lại là người viết đang chỉ đến đức Phật đóng kịch, đức Phật giả vờ... ở đoạn trên. Người viết khẳng định – vẫn không có dẫn chứng - rằng số lượng rất nhiều các đức Phật như Tam thiên Phật, Vạn Phật... “là điều do Phật giáo Trung Quốc đặt ra, không có trong Phật giáo Đại thừa ở Ấn Độ”. Chúng ta hãy tìm xem trong kinh điển có nội dung nào tương hợp với sự khẳng định này hay không. Vì cũng trong đoạn này, người viết xác định “Kinh A-di-đà có gốc rễ từ tiếng Sanskrit tại Ấn Độ, điều đó không ai phủ định”, nên tôi sẽ dẫn chứng bằng chính kinh văn này. Kinh A-di-đà có đoạn:

“Xá-lợi-phất! Cũng như ta nay xưng tán lợi ích công đức không thể nghĩ bàn của Phật A-di-đà, phương đông lại có chư Phật như: Phật A-súc-bệ, Phật Tu-di Tướng, Phật Đại Tu-di, Phật Tu-di Quang, Phật Diệu Âm..., vô số chư Phật như vậy, mỗi vị đều từ cõi nước của mình, hiện tướng lưỡi rộng dài bao trùm ba ngàn đại thiên thế giới, nói ra lời chân thật này: Hết thảy chúng sanh nên tin vào lời xưng tán công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh mà tất cả chư Phật đều hộ niệm.”

舍利 弗!如我今者,讚歎阿彌陀佛不可思議功 德;東方亦有阿閦鞞佛、須彌相佛、大須彌佛、須彌光 佛、妙音佛,如是等恒河沙數諸佛,各於其國出廣長舌相,遍覆三千大千世 界,說誠實言:『汝等眾生,當信 是稱讚不可思議功 德一 切諸佛所護念經。』

(Đại Chánh tạng, Tập 12, kinh số 366, trang 347, tờ b, dòng thứ 18 – 23)

Đoạn kinh này nói ở phương đông có vô số Phật, các đoạn tiếp theo lại nói đến phương tây, phương nam, phương bắc, phương trên và phương dưới, mỗi phương đều có vô số Phật. Như vậy, rõ ràng kinh này “có gốc rễ từ tiếng Sanskrit tại Ấn Độ” và đã có nói đến vô số đức Phật khác hơn là Phật Thích-ca, Phật A-di-đà, vậy làm sao có thể nói rằng Tam thiên Phật, Vạn Phật... “là điều do Phật giáo Trung Quốc đặt ra, không có trong Phật giáo Đại thừa ở Ấn Độ”?

Thật ra kinh này cũng có bản dịch của thầy Nhật Từ, với đoạn tương ứng như sau:

“Này Xá-lợi-phất, khi ta tán dương Phật A-di-đà, thì ở phương Đông, A-súc Bệ Phật, Tu-di Tướng Phật, Đại Tu-di Phật, Tu-di Quang Phật, và Diệu Âm Phật, và các Phật khác, nhiều như số cát... ...”

Như vậy, không thể nói là thầy Nhật Từ không biết việc kinh A-di-đà đã có đề cập đến vô số các vị Phật, không hiểu vì sao thầy lại nói đó là “do Trung Quốc đặt ra”. Đây rõ ràng là một sự mâu thuẫn với chính mình.

Đoạn văn tiếp theo mới thực sự đề cập đến nội dung câu hỏi, nhưng vẫn không thấy có câu trả lời “có” hay “không”. Thay vì vậy, thầy Nhật Từ cho rằng điều đó không quan trọng:

“Tôi vừa phân tích trong câu hỏi trước đây, Tây phương Tịnh độ không quan trọng, do vậy, đức Phật A-di-đà có thật hay không cũng không quan trọng.”

Đức Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên duy nhất là dạy cho chúng sinh con đường thoát khổ, đạt đến sự giác ngộ giải thoát. Vì thế, trong suốt một đời ngài giảng kinh thuyết pháp, đều nhằm mục đích chỉ dạy cho chúng sinh các pháp môn tu tập. Mỗi bản kinh do ngài thuyết ra đều là vì một số đối tượng chúng sinh thích hợp có thể áp dụng để tu tập hướng đến giải thoát. Kinh A-di-đà cũng không phải là ngoại lệ, nhất định Phật không nói ra chỉ để chứng tỏ sự hiểu biết của ngài hay vì một mục đích tầm thường nào khác, mà chính là vì chỉ dạy con đường thoát khổ cho chúng sinh. Nay đối với bản kinh này lại có nhận xét rằng “Tây phương Tịnh độ không quan trọng, do vậy, đức Phật A-di-đà có thật hay không cũng không quan trọng” thì tôi quả thật không thể hiểu được, nếu hai yếu tố đó đều không quan trọng, vậy đức Phật thuyết ra kinh này để vì mục đích gì?

“đức Phật A-di-đà có thật hay không cũng không quan trọng” nên những điều được xem là quan trọng là 5 yếu tố được nêu ra sau. Tuy nhiên, đây có vẻ như chỉ là sự tổng hợp từ giáo pháp chung của đức Phật, được đề cập trong rất nhiều kinh luận khác, chứ không phải ý nghĩa đặc thù của kinh A-di-đà này.

“Quan trọng là chúng ta phải hội tụ được: (i) căn lành lớn (tức thoát khỏi tham, sân, si), (ii) có công đức lớn (tức là nhập thế và làm các việc công đức), (iii) tạo nhân duyên tốt lớn (là mở đạo tràng cho mọi người cùng tu), (iv) quán pháp âm lớn (là lấy dữ liệu Ta-bà xây dựng Tịnh độ hiện tiền) và (v) nhất tâm bất loạn, tức cốt lõi của chính niệm và chính định trong bát chính đạo.” (Hết trích)

Yếu tố thứ năm được kể ra là “nhất tâm bất loạn”. Đây là một phẩm tính chung cho bất kỳ pháp môn nào, còn được gọi bằng tên khác là định hay tam-ma-đề. Nhưng “nhất tâm bất loạn” trong kinh A-di-đà không chỉ đơn thuần là “nhất tâm bất loạn”, mà được đề ra trong một ngữ cảnh đầy đủ như sau:

“Xá-lợi-phất! Như những kẻ nam, người nữ có lòng lành, nghe giảng nói về Phật A-di-đà, bèn chuyên tâm niệm danh hiệu ngài, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày... nhất tâm không tán loạn. Người ấy khi lâm chung liền thấy đức Phật A-di-đà cùng các vị thánh chúng hiện ra trước mắt. Khi mạng chung tâm không điên đảo, liền được sanh về cõi Cực Lạc của đức Phật A-di-đà.”

舍利 弗!若有善男子、善女人,聞說阿彌陀佛,執持名號,若一 日、若二 日、若三日、若四日、若五 日、若六 日、若七日,一 心不亂 。其人臨命終時,阿彌陀佛與諸聖眾現在其前 。是人終時,心不顛倒,即得往生阿彌陀佛極樂國土。

(Đại Chánh tạng, Tập 12, kinh số 366, trang 347, tờ b, dòng thứ 10 – 15)

Chúng ta có thể thấy rõ, yếu tố “nhất tâm bất loạn” được khởi sinh kèm theo 2 yếu tố trước đó. Thứ nhất, được “nghe giảng nói về Phật A-di-đà”, nghĩa là người tu tập đã thông suốt, hiểu rõ về cõi nước Cực Lạc cũng như đại nguyện của đức Phật A-di-đà, từ đó mới có thể khởi tâm tin nhận đúng đắn. Tương tự như trước khi ta quyết định đến sinh sống ở một vùng nào, đã được nghe rõ các thông tin về thời tiết, sinh hoạt, điều kiện sống... ở đó rồi mới quyết định, thì đó sẽ là một quyết định chắc chắn, có chọn lựa chứ không phải tùy tiện.

Hồng danh đức Phật A-di-đà không phải một câu thần chú để bất cứ ai đọc lên cũng được vãng sinh, mà điều kiện thứ nhất nêu ra ở đây là người đó phải được nghe giảng giải về Phật A-di-đà, để có được một sự phát tâm chân thành, chí thiết. Thứ hai là phải “chuyên tâm niệm danh hiệu ngài”, nghĩa là chỉ hướng tâm duy nhất vào việc niệm danh hiệu Phật, không nghĩ nhớ đến bất kỳ điều gì khác, phải buông xả hết muôn duyên. Có được hai yếu tố này rồi, mới tiếp tục duy trì, nuôi dưỡng từ một ngày, hai ngày... mãi cho đến lúc đạt được sự “nhất tâm bất loạn”.

Cũng nên biết rằng, con số bảy trong kinh chỉ là tượng trưng, để nói lên hàm ý là “tu tập mãi cho đến lúc nào được nhất tâm bất loạn”. Khi không hiểu được hàm ý tượng trưng này, người dịch có thể làm sai lệch ý nghĩa kinh văn, chẳng hạn như dịch là “trong vòng một ngày, cho đến bảy ngày” thì hoàn toàn sai lệch. Vì đức Phật không hề có ý quy định một giới hạn thời gian cụ thể như vậy, và nếu sau ngày thứ bảy mà hành giả chưa được “nhất tâm bất loạn”, họ có thể sinh tâm hoài nghi.

Như vậy, nhất tâm ở đây là nhất tâm trong sự chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, hướng về tâm nguyện được vãng sinh Cực Lạc, không phải là nhất tâm nói chung như trong các pháp môn khác.

Kết hợp những yếu tố này, chúng ta thấy rõ điều kiện sinh khởi tha lực có đủ, theo như đã bàn đến ở phần trên. Đại nguyện tiếp dẫn của đức Phật A-di-đà là sẵn có và không giới hạn, tâm thức hành giả có sự chân thành hướng về và sẵn sàng tiếp nhận tha lực của đức Phật. Và do đó mà sự “cảm ứng đạo giao nan tư nghị” đã hoàn toàn có đủ điều kiện để xảy ra.

Chính vì bỏ qua - hoặc không tin vào - yếu tố tha lực vốn được thuyết dạy rõ ràng trong kinh, nên thầy Nhật Từ trong một đoạn phía sau đã nói về “chiều sâu của kinh A-di-đà” như sau:

“Do đó ta đừng bận tâm là Phật A-di-đà có thật hay không, Tây phương Tịnh độ có thật hay không.” (Hết trích)

Nên biết rằng, cốt lõi của kinh A-di-đà là niềm tin. Trong toàn bản kinh, đức Phật lặp lại ba lần khuyên dạy, nhưng cuối cùng vẫn băn khoăn lo lắng rằng chúng sinh không chịu tin nhận, bởi biết rằng những gì ngài thuyết dạy trong kinh này là hết sức khó tin nhận đối với chúng sinh.

Lần thứ nhất, sau khi giảng nói chi tiết về đức Phật A-di-đà và cõi Cực Lạc ở phương tây, đức Phật dạy: “Xá-lợi-phất! Chúng sanh nghe biết rồi, nên phát nguyện sanh về cõi ấy.” - 舍利 弗!眾生聞者,應當發願,願生彼國。 (Đại Chánh tạng, Tập 12, kinh số 366, trang 347, tờ b, dòng 7 - 8)

Lần thứ hai, sau khi giảng nói những lợi ích của sự vãng sinh và phương thức để được vãng sinh là tin nhận và trì niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà, đức Phật ân cần lặp lại lời khuyên dạy: “Xá-lợi-phất! Ta thấy sự lợi ích đó, nên mới giảng nói như vậy. Nếu có chúng sanh nào được nghe, nên phát nguyện sanh về cõi ấy.” - 舍利 弗!我見是利 ,故說此言。若有眾生聞是說者,應當發願生彼國土。 (Đại Chánh tạng, Tập 12, kinh số 366, trang 347, tờ b, dòng 15 - 17)

Sau hai lần khuyên dạy và giảng rõ như thế, vô số chư Phật ở khắp các phương trong hư không liền hiển lộ tướng chân thật để chứng minh cho lời dạy của đức Phật Thích-ca, tất cả đều khuyên dạy chúng sinh nên tin nhận những lời dạy đó, vì tất cả chư Phật đều hộ niệm cho kinh này.

Và sau khi đã có sự chứng minh của tất cả chư Phật, đức Phật Thích-ca lại ân cần khuyên dạy thêm lần thứ ba, nhấn mạnh ở việc chư Phật cũng đều đồng lòng như vậy: “Xá-lợi-phất! Vì vậy mọi người nên tin theo lời ta và chư Phật đã nói.” - 是故舍利弗!汝等皆當信 受我語及諸佛所說。(Đại Chánh tạng, Tập 12, kinh số 366, trang 348, tờ a, dòng 11 - 12)

Ba lần khuyên dạy, thật hết sức ân cần thiết tha, lại có sự viện dẫn đến hết thảy chư Phật chứng minh đó là những lời chân thật, nhưng đức Phật Thích-ca vẫn còn lo lắng rằng đối với chúng sinh mê muội trong vòng vô minh tăm tối, có thể họ vẫn chưa chịu tin nhận. Vì thế, ngài lại tiếp tục thuyết phục thêm bằng cách chỉ ra sự khó tin nhận của pháp môn này:

“Xá-lợi-phất! Nên biết rằng, ta ở trong cõi đời xấu ác có năm thứ uế trược, làm nên việc khó khăn, đạt được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì tất cả thế gian thuyết dạy pháp môn khó tin nhận này, thật là một điều rất khó lắm thay!”

舍利弗!當知我於五濁惡世 ,行此難事 ;得阿耨多羅三藐三菩提,為一 切世 間說此難信 之法,是為甚難!

(Đại Chánh tạng, Tập 12, kinh số 366, trang 348, tờ a, dòng 23 - 26)

Quả thật rất khó tin nhận, nên sự thật là đã có không ít người không chịu tin nhận hoặc tin nhận một cách sai lầm về bản kinh này. Một khi đã không tin nhận thì đương nhiên sẽ không cần bận tậm đến việc “Phật A-di-đà có thật hay không, Tây phương Tịnh độ có thật hay không”, hay nói khác đi là đức Phật Thích-ca dù có viện dẫn mười phương chư Phật chứng minh cho lời dạy của ngài là thật, điều đó cũng không quan trọng, không cần quan tâm.

Vậy điều gì cần được quan tâm? Đoạn văn tiếp theo nêu rõ:

“Triết lý của Tịnh độ tông nằm ở chỗ, khi đạt được công đức lớn, căn lành lớn, nhân duyên tốt lớn, quán pháp âm lớn và nhất tâm bất loạn thì người đó đã trở thành thánh nhân trong hiện tại rồi. Thánh nhân có mặt ở chỗ nào thì cực lạc, niết bàn có mặt ở chỗ đó. Đó là chiều sâu của kinh A-di-đà.” (Hết trích)

Chúng ta hãy tìm hiểu xem, liệu khi thực sự đạt được những điều nói ở đây thì có phải là thánh nhân hay chưa? Để đi sát với ý nghĩa được tác giả đề cập, chúng ta phải sử dụng chính sự giải thích của tác giả, đó là:

“(i) căn lành lớn (tức thoát khỏi tham, sân, si), (ii) có công đức lớn (tức là nhập thế và làm các việc công đức), (iii) tạo nhân duyên tốt lớn (là mở đạo tràng cho mọi người cùng tu), (iv) quán pháp âm lớn (là lấy dữ liệu Ta-bà xây dựng Tịnh độ hiện tiền)” (Hết trích)

Về điều thứ nhất, “căn lành lớn”, được giải thích là “dứt tham, sân, si”. Quả nhiên như thế đã là người rất tốt, nhưng muốn làm thánh nhân thì chưa được. Trong đạo Phật đề cập đến Thập sử (十使) là mười điều căn bản luôn sai sử, dẫn dắt chúng sinh tạo nghiệp. Hành giả muốn đạt được giải thoát không thể không trừ dứt những điều này. Thập sử bao gồm Ngũ độn sử là 5 điều thô nặng đối với chúng sinh độn căn hay người mới tu học, và Ngũ lợi sử tức là 5 điều tinh tế, khó điều phục hơn đối với chúng sinh lợi căn hay những người đã tu tập lên cao. Nay tạm chưa nói đến tầng bậc dứt trừ Ngũ lợi sử, chỉ trong phần Ngũ độn sử đã bao gồm: tham, sân, si, mạn và ngi. Dứt được tham, sân, si thì vẫn còn kiêu mạn và hoài nghi, nghĩa là chưa hết. Thập sử chỉ mới dứt được ba, còn lại bảy, nên so với phàm phu thì là người tốt, mà nói là thánh nhân thì còn xa lắm.

Hơn nữa, Phật dạy vô minh mới là cội nguồn của sinh tử, dứt trừ tham sân si là bước khởi đầu giúp giảm nhẹ phiền não nhưng không thể dứt hết phiền não để chứng ngộ thánh quả. Theo kinh Hoa Nghiêm, vị Bồ Tát tu tập đến bậc Sơ trụ, dứt hết các phần vô minh thô trược mới bắt đầu chạm đến các phần vô minh vi tế, sâu thẳm nhất trong tâm thức. Có cả thảy 41 phần, Bồ Tát lần lượt tu tập qua 41 quả vị mới dứt hết được vô minh, giác ngộ rốt ráo. Đó là các quả vị Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa và Bồ Tát Đẳng Giác. Vì Bồ Tát Đẳng Giác trừ dứt được phần vô minh vi tế cuối cùng thì mới chứng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tức là thành Phật.

Chính vì con đường tu tập là như vậy, nên đức Phật mới không ngại khó nhọc nói ra rất nhiều pháp môn phương tiện, rất nhiều kinh điển khác nhau. Nếu chỉ trừ bỏ tham sân si là xong việc, cho dù cũng đã không dễ dàng gì, thì Phật đâu cần phải nhọc công thuyết giảng nhiều như vậy?

Về điều thứ hai, “có công đức lớn”, được giải thích “tức là nhập thế và làm các việc công đức”. Theo kinh Phật thì đây chưa đủ là nền tảng để cầu đạo giải thoát, bởi còn phải nói đến việc làm với tâm như thế nào. Mà muốn có tâm thích hợp để những việc làm của ta có thể hướng đến giải thoát, thì đó lại là vấn đề tu tâm chứ không phải tạo công đức.

Chúng ta đều biết mẩu đối thoại giữa ngài Bồ-đề Đạt-ma với Lương Võ Đế. Nếu nói đến việc làm công đức như xây chùa, tạo tượng, độ tăng, cúng dường... chúng ta ngày nay được mấy người có thể sánh với những việc ông vua ấy đã làm? Nhưng ngài Bồ-đề Đạt-ma đã khẳng định với ông ta là những điều ấy “đều không có công đức”. Tất nhiên, quay lại với những điều vừa bàn ở trên, chúng ta có thể hiểu là Tổ sư đang muốn nói đến loại công đức có thể giúp người giải thoát, không phải công đức giúp người được sinh ra đời sau được phú quý giàu sang hay thậm chí hưởng phước cõi trời. Lương Võ Đế tâm niệm còn si mê, nghĩa là chưa tu tâm mà làm công đức, nên cho dù làm rất nhiều mà hướng đến sự giải thoát thì hoàn toàn không có phần. Cho nên, trước phải tu tâm, sau mới tạo công đức, thì công đức ấy sẽ có chỗ hướng về đúng đắn, và việc làm của ta mới hợp Chánh pháp.

Về điều thứ ba, “tạo nhân duyên tốt lớn”, được giải thích “là mở đạo tràng cho mọi người cùng tu”. Vẫn cùng một lý giải như trên, chúng ta thấy ngay đây không phải điều kiện để giúp người tu tập chứng đắc thánh quả. Chúng ta mấy ai đủ khả năng mở được nhiều đạo tràng hơn Lương Võ Đế? Hơn nữa, có đạo tràng cho mọi người cùng tu thì họ chứng ngộ, ta có phước đức, nhưng nếu ta không tu thì cũng chẳng thể mong được giải thoát. Do đó, vận dụng điều thứ ba này để bước vào dòng thánh thì đó là điều không tưởng.

Về điều thứ tư, “quán pháp âm lớn”, được giải thích “là lấy dữ liệu Ta-bà xây dựng Tịnh độ hiện tiền”. Theo phần giải thích này có nghĩa là người tu tập cần sử dụng chính những điều kiện hiện có quanh mình, ngay tại cõi Ta-bà này, để xây dựng, chuyển hóa thành một môi trường sống giống như Tịnh độ. Điều này có thực hiện được hay chăng? Cũng có thể, mà cũng không thể. Vì sao vậy?

Để có thể thực hiện điều này, đức Phật đã chỉ dạy đầy đủ các pháp tu theo Bát chánh đạo. Quả thật, nếu chúng sinh có thể chuyên cần tu tập đạt đến giác ngộ thì tất nhiên ngay tại nơi đây đã là Tịnh độ. Tuy nhiên, nếu điều này là khả thi đối với tất cả chúng sinh cõi Ta-bà, thì chắc chắn đức Phật đã không cần thuyết dạy kinh A-di-đà. Vì căn tánh chúng sinh khác biệt, có những người không đủ khả năng làm như vậy mà chỉ có thể nỗ lực đến mức độ nhất định nào đó thôi, và e rằng số đó lại là đa số, nên đức Phật mới thuyết dạy kinh A-di-đà như một pháp môn thích hợp hơn đối với những người này. Vì thế, nếu khả năng tu tập của bản thân chưa đủ năng lực mà muốn biến cõi Ta-bà thành Tịnh-độ thì e rằng chỉ có thể nói suông chứ khó lòng làm được.

Hãy lấy một ví dụ, hiện nay điều kiện giáo dục ở nước ngoài có nhiều nơi được xem là tốt hơn Việt Nam, nên nhiều người mong muốn đi du học. Nếu chúng ta có thể sử dụng hoàn cảnh hiện nay tại Việt Nam để xây dựng một hệ thống giáo dục tốt đẹp giống như nước ngoài, chẳng phải sinh viên Việt Nam không cần gì phải đi du học nữa sao? Điều này nói ra nghe hoàn toàn hợp lý, vì nếu được vậy thì không có lý do gì chúng ta phải tốn kém du học xa xôi. Nhưng thực tế có làm được chăng? Tất nhiên tùy năng lực của chúng ta. Nếu đủ khả năng thì đây là giải pháp tốt nhất, có lợi nhất. Nhưng nếu không đủ khả năng mà chỉ “vạch ra phương hướng” như thế, thì điều tất yếu là vẫn phải có những sinh viên chọn con đường du học mà thôi. Vì thế, cõi Ta-bà này có thể biến thành Tịnh-độ hay không, mỗi người chúng ta phải tự nhận biết theo khả năng của riêng mình.

Về điều thứ năm, cuối cùng, thì trên đây đã chỉ rõ tính sai lệch khi tách rời ra khỏi ngữ cảnh trình bày trong kinh văn, nên ở đây không cần bàn đến nữa.

Như vậy, trong đoạn văn này có hai sai lầm. Thứ nhất, dù đạt được đủ ba yếu tố đầu tiên, theo đúng như giải thích của người viết, thì người như thế vẫn chưa phải là thánh nhân, chỉ có thể xem là một người tốt mà thôi. Và vì chưa phải thánh nhân, không có năng lực của bậc thánh nên điều thứ tư là chuyển hóa Ta-bà thành Tịnh độ không thể thực hiện được. Còn điều thứ năm vì tách rời ngữ cảnh kinh văn nên khi đưa vào đây thể hiện rõ tính lạc lõng, không phù hợp của nó, bởi tu tập định lực thì chỉ là một yếu tố hỗ trợ mà thôi, không phải yếu tố duy nhất dẫn đến sự giải thoát.

Cần lưu ý là, năm yếu tố nêu trên không xuất hiện một cách hệ thống trong bất kỳ kinh điển nào, và xét riêng trong bối cảnh kinh A-di-đà thì chúng được thu nhặt ở nhiều nơi, nhiều ngữ cảnh khác nhau, khi kinh văn không hề có hàm ý nêu ra như điều kiện để vãng sinh, mà chỉ hoàn toàn do suy diễn chủ quan của người diễn giải.

Sự sai lầm trong diễn giải kinh văn có thể xuất phát từ sai lầm ngay từ bước đầu tiếp cận bản kinh, khi tác giả giải thích về danh hiệu Phật A-di-đà như sau:

“Nghĩa đen của chữ A-di-đà trong ngôn ngữ Sanskrit là trí tuệ không giới hạn (Vô lượng quang). Trung Quốc đặt thêm hai nội dung mới là Vô lượng công đức và Vô lượng thọ, tức là tuổi thọ không giới hạn, trái với quy luật sinh, già, bệnh, chết mà đức Phật đã công bố, đồng thời, cũng trái với quy luật thiên nhiên. Vô lượng thọ là điều không có thật. Phật giáo Trung Quốc thêm thắt thứ nầy thứ nọ để dẫn dụ quần chúng đi theo các tông phái Phật giáo của họ.” (Hết trích)

Không cần nghiên cứu học hỏi nhiều, chỉ “google” danh hiệu A Di Đà là chúng ta có ngay thông tin từ trang Wiki như sau:

“A-di-đà hay A Di Đà (chữ Hán: 阿彌陀) là danh từ phiên âm có gốc từ hai chữ trong tiếng Phạn: अमिताभ, amitābha và amitāyus. Amitābha dịch nghĩa là "vô lượng quang" - "ánh sáng vô lượng"; amitāyus có nghĩa là "vô lượng thọ" - "thọ mệnh vô lượng".”

Trước hết, trí tuệ là ý nghĩa biểu trưng của ánh sáng, hào quang, nhưng tác giả đang nói đến “nghĩa đen” nên chỉ có nghĩa “ánh sáng vô lượng” chứ không có nghĩa trí tuệ. Thứ hai, vô lượng (無量) tuy gần nghĩa với vô hạn (無限) nhưng vẫn là hai phạm trù ý nghĩa khác nhau, nên nói “trí tuệ không giới hạn” thì tiếp tục sai, vì đang nói đến nghĩa đen, mà nghĩa đen thì không có nghĩa này.

Từ cách hiểu sai này, tác giả tiếp tục không đúng cả trong phần tiếp theo. Thứ nhất, các vị giảng sư đều có thể giảng giải về công đức vô lượng của đức Phật A-di-đà, nhưng chưa nghe và cũng không có kinh luận nào ghi nhận danh hiệu của Phật A-di-đà là Vô Lượng Công Đức. Kiến thức phổ thông ở trang Wiki vừa dẫn trên cũng ghi nhận điều này. Như vậy, Trung Quốc hoàn toàn không có “đặt thêm hai nội dung mới là Vô lượng công đức và Vô lượng thọ”, bởi vì danh hiệu Vô Lượng Công Đức là không có, còn Vô Lượng Thọ là danh hiệu được dịch từ Phạn ngữ như trên đã thấy.

Câu tiếp theo giải thích “Vô lượng thọ, tức là tuổi thọ không giới hạn” cũng hoàn toàn sai, vì tác giả không phân biệt được chữ lượng (量) và chữ hạn (限). Điều này làm tôi rất hoang mang khi đọc thấy có bản soạn dịch kinh A-di-đà để tên Thích Nhật Từ. Nếu không phân biệt được hai chữ Hán này thì làm sao hiểu được từ “như thị ngã văn” cho đến “tác lễ nhi khứ” để dịch từ Hán ngữ? Do vậy tôi đoán rằng mình đã lầm, có lẽ thầy Nhật Từ đã dịch từ bản Phạn ngữ chứ không phải Hán ngữ. Thế nhưng, tất cả các tên người và chi tiết trong bản dịch đều theo như bản chữ Hán, nên cũng có thể đây là bản dịch lại từ một bản Việt dịch khác.

Chữ “lượng” ở đây mang nghĩa là đo lường, nên “vô lượng” nghĩa là không thể đo lường, không thể suy lường. Chính vì vậy chúng ta thấy rất gần nghĩa với vô hạn, nghĩa là không giới hạn. Tuy gần nghĩa, nhưng không phải đồng nghĩa, nên dùng ý nghĩa của “vô hạn” (vốn không có ở đây) để phê phán nghĩa “vô lượng” rồi cho là “trái với quy luật sinh, già, bệnh, chết” thì rõ ràng không thuyết phục chút nào. Vô lượng hàm nghĩa một số lượng năm tháng, thời gian quá lâu xa đến mức chúng ta không suy lường nổi, như trong kinh văn phần sau nói thêm: “Đời sống của đức Phật và nhân dân cõi ấy kéo dài vô số a-tăng-kỳ kiếp nên gọi là A-di-đà.” - 彼佛壽命及其人民,無量無邊阿僧 祇劫 ,故名阿彌陀。 (Đại Chánh tạng, Tập 12, kinh số 366, trang 347, tờ a, dòng 27 – 29)

Như vậy, kinh văn hàm nghĩa là đến một thời gian nào đó vẫn sẽ có sự chấm dứt thọ mạng, nhưng chúng ta không thể suy lường nổi đến thời gian ấy mà thôi. Ngoài ra, câu kinh này cũng xác nhận ý nghĩa “vô lượng thọ” là có thật trong kinh, không phải do “Trung Quốc đặt thêm” vào. Và như vậy, khi nói “Vô lượng thọ là điều không có thật” cũng đồng nghĩa như nói “Đức Phật Thích-ca nói dối”, bởi kinh A-di-đà đã được chính thầy Nhật Từ thừa nhận, soạn dịch, giảng giải... Vậy riêng câu kinh này “là điều không có thật” thì tất nhiên phải hiểu là Phật nói dối, không thể hiểu khác hơn. Cũng nhân tìm hiểu điều này, tôi nhận thấy bản “soạn dịch” của thầy Nhật Từ ghi như sau:

“Thọ mạng của Phật và hàng thánh chúng, ở cõi Tây Phương, dài lâu vô lượng, không thể nghĩ bàn. Do vậy Phật ấy hiệu A-di-đà.” (Hết trích)

Trong nguyên bản là “bỉ Phật thọ mạng cập kỳ nhân dân” (彼佛壽命及其人民), nghĩa là chỉ đến tất cả nhân dân cõi ấy, nhưng qua bản dịch chỉ còn lại “hàng thánh chúng” mà thôi! Hơn nữa, ý nghĩa “không thể nghĩ bàn” (不可思議) không có trong nguyên bản.

Tuy như vậy là dịch sai, nhưng qua cái sai đó cũng đủ thấy được thọ mạng dài lâu của Phật, tại sao chính người dịch kinh này lại có thể phủ nhận câu kinh đó là không có thật? Điều này càng cho thấy có vẻ như người dịch không mấy chú ý đến ý nghĩa trong kinh.

Nguyên nhân dẫn đến mất niềm tin rõ ràng là do nhận hiểu sai lệch. Đoạn văn sau đây nói về 48 đại nguyện của Phật A-di-đà:

“Trên thực tế, ‘bốn mươi tám lời nguyện’ trong Tịnh độ tông của Trung Quốc không phải của đức Phật A-di-đà như đã bị ngộ nhận và truyền bá trong nhiều thế kỷ qua. Bốn tám lời nguyện thực chất là của thầy tỳ-kheo Pháp Tạng, khi còn là một phàm tăng, giống bao nhiêu các tu sĩ phàm khác.” (Hết trích)

Đoạn văn này cho thấy tác giả chưa đọc qua kinh Đại A-di-đà, cũng chưa tìm hiểu về xuất xứ kinh này. Kinh Đại A-di-đà từ Phạn bản được dịch sang Hán ngữ có ít nhất là 4 bản dịch khác nhau với tên kinh khác nhau, được xác nhận đều từ một Phạn bản. Bản thứ nhất là Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác kinh (無量清淨平等覺經), được ngài Chi-lâu-ca-sấm dịch sang Hán ngữ vào đời Hậu Hán. Bản thứ hai mang tên Vô lượng thọ kinh (無量壽經) được Khang Tăng Khải dịch vào đời Ngụy. Bản thứ ba là A-di-đà quá độ nhân đạo kinh (阿彌陀過度人道經) do ngài Chi Khiêm dịch vào đời Ngô. Bản thứ tư là Vô lượng thọ trang nghiêm kinh (無量壽莊嚴經) do ngài Pháp Hiền dịch vào đời Tống. Với xuất xứ rõ ràng như vậy, chúng ta có thể kết luận kinh này hoàn toàn không thể do người Trung Quốc “thêm thắt” được.

Bốn mươi tám đại nguyện của đức Phật A-di-đà từ khi còn là tỳ-kheo Pháp Tạng được ghi chép trong bản kinh này, nhưng vì chưa đọc qua nên tác giả mới dám nói rằng ngài Pháp Tạng “là một phàm tăng, giống bao nhiêu các tu sĩ phàm khác”. Thực tế, chúng ta có thể xem qua một đoạn ngắn về tỳ-kheo Pháp Tạng trong kinh này, ngay trước khi ngài đưa ra 48 lời đại nguyện:

“Đức Phật liền chọn ra hai ngàn một trăm vạn cõi Phật, trong đó có bao nhiêu chư thiên, người dân, cõi nước thiện hay ác, thô xấu hay vi diệu, tùy theo tâm nguyện [của ngài Pháp Tạng] đều hiển hiện. Ngài Pháp Tạng liền chuyên nhất tâm mình, đạt được thiên nhãn, không một nơi nào không nhìn rõ thấu triệt.”

佛乃選擇二 千一 百萬佛剎中。諸天人民之 善惡國土之 麁妙。隨其心願悉令顯現。法藏即一 其心。遂得天眼莫不徹見。

(Đại Chánh tạng, Tập 12, kinh số 364, trang 328, tờ b, dòng 29 và tờ c, dòng 1 - 3)

Như vậy, rõ ràng ngài Pháp Tạng vào lúc đó không thể “là một phàm tăng, giống bao nhiêu các tu sĩ phàm khác”, vì ngài đã đạt được thiên nhãn. Tuy nhiên, điều này chỉ cho thấy phát biểu của tác giả xuất phát từ chỗ chưa đọc qua kinh văn, còn việc khi phát nguyện có là phàm tăng hay thánh tăng cũng không phải điều quan trọng. Bất cứ vị thánh tăng nào thì cũng đã từng là người phàm, nên ngay cả việc phát nguyện khi còn là phàm phu thật ra lại càng đáng trân trọng hơn.

Điều đáng nói hơn là lập luận cho rằng 48 đại nguyện đó “là của thầy tỳ-kheo Pháp Tạng” nên “không phải của đức Phật A-di-đà”, trong khi chúng ta đã biết qua kinh văn rằng chính tỳ-kheo Pháp Tạng là người đã tu tập cho đến chứng đắc, thành Phật hiệu là A-di-đà.

Lấy một ví dụ, trước khi tôi đi du học có mượn của ai đó một món nợ, sau khi có học vị tiến sĩ trở về lại nói “người mượn nợ là sinh viên, còn tôi bây giờ là tiến sĩ, cho nên món nợ đó không phải của tôi”. Rõ ràng, cách lập luận như thế là vô lý. Cho nên, cách nói như trên là không chấp nhận được. Tuy nhiên, điều lạ nhất là ở gần cuối bài tác giả lại ghi rằng:

“Chúng tôi dựa vào kinh điển để đánh giá vấn đề, chứ không dựa vào thành kiến, định kiến cá nhân...” (Hết trích)

Đọc qua trọn bài viết của thầy Nhật từ, độc giả có thể thấy rõ là chúng ta không tìm thấy bất kỳ một bản kinh văn nào được trích dẫn cả, dù là kinh điển Nam truyền hay Bắc truyền.

Như vậy, đối với câu hỏi “đức Phật A-di-đà có hay không” thì phần trả lời của thầy Nhật Từ thật ra là không trả lời gì cả, chỉ nói rằng “có hay không cũng không quan trọng”. Tuy nhiên, đối với người tu Tịnh độ thì câu trả lời này rõ ràng hàm nghĩa là “không có”, bởi nếu không đặt niềm tin vững chắc vào đức Phật thì cũng xem như không có Phật.

Tuy nhiên, bằng vào những nội dung kinh điển đã tìm hiểu trên, chúng ta vẫn có thể tự mình đưa ra câu trả lời.

Thứ nhất, ta có thể tin chắc rằng ngoài đức Phật Thích-ca Mâu-ni, còn có rất nhiều các vị Phật khác. Kinh điển dạy như thế, và điều này cũng hoàn toàn hợp lý trong suy luận thông thường của chúng ta. Nếu như đức Phật đã dạy rõ ràng một tiến trình tu tập để thành tựu quả Phật, thì trong dòng thời gian từ vô thủy đến nay không thể nào chỉ có một vị Phật. Trong vũ trụ mênh mông mà tầm nhìn của loài người so ra hết sức hạn hẹp, thì không thể nào chỉ duy nhất có địa cầu này có sự sống, có chúng sinh. Các nhà khoa học hiện đại cũng tán đồng việc tìm kiếm sự sống ở những nơi khác trong vũ trụ, cho dù họ chưa thành công, nhưng không có nhà khoa học nào phủ nhận khả năng đó. Hơn nữa, đức Phật còn dạy về vô số cảnh giới đều do nghiệp lực tạo thành, nên chẳng những là ở các không gian khác, mà ngay không gian quanh ta cũng vẫn có thể có cảnh giới của những loài khác, mà do nghiệp lực khác biệt nên chúng ta không thể nhận biết.

Về mặt suy luận, trong vô số vị Phật khác đó có một vị mang danh hiệu A-di-đà với tâm nguyện độ sinh bằng 48 lời đại nguyện cũng là điều tự nhiên. Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã vì thương xót chúng sinh nên thuyết dạy kinh A-di-đà chỉ bày pháp môn Tịnh độ, giới thiệu với chúng ta vị Phật đó, cõi Phật đó. Kinh A-di-đà có nguồn gốc rõ ràng từ Phạn bản, nên lời dạy trong đó không thể nghi ngờ.

Về mặt tu tập, chúng ta đã tìm hiểu về sự phát sinh tha lực từ chư Phật đối với những chúng sinh có tâm thành, có sự tu tập chân chánh. Một khi nguyện lực vô biên của chư Phật luôn hướng đến tất cả chúng sinh vì lòng đại từ đại bi sẵn lòng cứu độ, thì vấn đề còn lại chỉ là ở nơi chúng ta, phải có sự tu tập chân chánh, có tâm chí thành thanh tịnh, để có thể làm khởi sinh sự “cảm ứng đạo giao nan tư nghị”.

Nếu chúng ta không tu tập, trong tâm ta đầy phiền não cấu nhiễm, không thanh tịnh, không chân thành, thì chắc chắn không thể có sự cảm ứng. Trong trường hợp đó, ta không thể nói là không có Phật A-di-đà, bởi sự khuyết thiếu là ở nơi chúng ta. Cũng giống như sóng vô tuyến truyền hình phủ khắp một vùng và mỗi nhà chúng ta đều sẵn có ti-vi, nếu ta không xem được hình ảnh thì đó là do ti-vi của ta bị hỏng, không phải do không có đài truyền hình.

Như chúng ta thấy, sự cảm ứng này đã xảy ra khi Hòa thượng Bổn sư của thầy Nhật Từ niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm và được thoát khỏi tật bệnh. Nếu Bồ Tát Quán Thế Âm đã linh ứng có thật, thì không lý do gì đức Phật A-di-đà lại không có thật.

    « Xem chương trước «      « Sách này có 7 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy »


Lượt xem: 1.662



Quý vị đang truy cập từ IP 54.161.175.236 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn nhutuan Rộng Mở Tâm Hồn Tue Thuc Rộng Mở Tâm Hồn thuonghylenien Rộng Mở Tâm Hồn tran tu Rộng Mở Tâm Hồn TranDoan Rộng Mở Tâm Hồn Konchog Dondrup Samten Rộng Mở Tâm Hồn Vạn Phúc Rộng Mở Tâm Hồn Cay Rộng Mở Tâm Hồn Pháp Duyên Rộng Mở Tâm Hồn Minh Thái Hồng Rộng Mở Tâm Hồn loantran Rộng Mở Tâm Hồn Nguyen Thi Hoa Rộng Mở Tâm Hồn Ryo Rộng Mở Tâm Hồn Chơn Hỷ Rộng Mở Tâm Hồn Trần Sáng Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Hân Rộng Mở Tâm Hồn bichnga Rộng Mở Tâm Hồn Duc Tran Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Tiến Rộng Mở Tâm Hồn Bất thối Rộng Mở Tâm Hồn Sonny View Rộng Mở Tâm Hồn Hùng Chí Rộng Mở Tâm Hồn The Phong Rộng Mở Tâm Hồn Phan Huy Rộng Mở Tâm Hồn Dũng Boston Rộng Mở Tâm Hồn Tam Dung Hung Rộng Mở Tâm Hồn phuong te Rộng Mở Tâm Hồn Young Rộng Mở Tâm Hồn v.beanq Rộng Mở Tâm Hồn Hộ Chánh Rộng Mở Tâm Hồn Anh Linh Rộng Mở Tâm Hồn Thùy Giang Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Tâm 572 Rộng Mở Tâm Hồn minhthìen2016358@gmail.com Rộng Mở Tâm Hồn Liên Rộng Mở Tâm Hồn pdmt0304@yahoo.com Rộng Mở Tâm Hồn Ngộ Đạt Rộng Mở Tâm Hồn Từ Hòa Rộng Mở Tâm Hồn Brajna Bhadra Rộng Mở Tâm Hồn Phiêu Bồng ... ...

Việt Nam (55.702 lượt xem) - Hoa Kỳ (39.113 lượt xem) - Đức quốc (2.747 lượt xem) - Nga (1.972 lượt xem) - Pháp quốc (1.003 lượt xem) - Anh quốc (969 lượt xem) - Benin (208 lượt xem) - Central African Republic (149 lượt xem) - Australia (98 lượt xem) - Hà Lan (31 lượt xem) - Trung Hoa (29 lượt xem) - Burma (Myanmar) (29 lượt xem) - Tây Ban Nha (24 lượt xem) - Phần Lan (22 lượt xem) - Luxembourg (17 lượt xem) - Ấn Độ (14 lượt xem) - Senegal (12 lượt xem) - Thái Lan (11 lượt xem) - Mayotte (10 lượt xem) - Indonesia (9 lượt xem) - Nhật Bản (8 lượt xem) - Romania (8 lượt xem) - Philippines (8 lượt xem) - Italy (7 lượt xem) - Palau (6 lượt xem) - Cộng hòa Czech (6 lượt xem) - Singapore (6 lượt xem) - French Southern Territories (6 lượt xem) - Đài Loan (4 lượt xem) - Na-uy (4 lượt xem) - Algeria (4 lượt xem) - Greece (3 lượt xem) - South Africa (3 lượt xem) - Saudi Arabia (3 lượt xem) - Paraguay (2 lượt xem) - Burundi (2 lượt xem) - Lào (2 lượt xem) - Nepal (1 lượt xem) - Ma-cao (1 lượt xem) - Maldives (1 lượt xem) - Sri Lanka (1 lượt xem) - Albania (1 lượt xem) - Croatia (Hrvatska) (1 lượt xem) - Syria (1 lượt xem) - Hong Kong (1 lượt xem) - Oman (1 lượt xem) - Ghana (1 lượt xem) - Iceland (1 lượt xem) - Cambodia (1 lượt xem) - Hungary (1 lượt xem) - Mozambique (1 lượt xem) - Iran (1 lượt xem) - Lithuania (1 lượt xem) - ... ...