Người có trí luôn thận trọng trong cả ý nghĩ, lời nói cũng như việc làm. Kinh Pháp cú

Người hiền lìa bỏ không bàn đến những điều tham dục.Kẻ trí không còn niệm mừng lo, nên chẳng bị lay động vì sự khổ hay vui.Kinh Pháp cú (Kệ số 83)
Điều kiện duy nhất để cái ác ngự trị chính là khi những người tốt không làm gì cả. (The only thing necessary for the triumph of evil is for good men to do nothing.)Edmund Burke
Đừng bận tâm về những thất bại, hãy bận tâm đến những cơ hội bạn bỏ lỡ khi thậm chí còn chưa hề thử qua. (Don’t worry about failures, worry about the chances you miss when you don’t even try. )Jack Canfield
Mục đích của cuộc sống là sống có mục đích.Sưu tầm
Kẻ bi quan than phiền về hướng gió, người lạc quan chờ đợi gió đổi chiều, còn người thực tế thì điều chỉnh cánh buồm. (The pessimist complains about the wind; the optimist expects it to change; the realist adjusts the sails.)William Arthur Ward
Mất lòng trước, được lòng sau. (Better the first quarrel than the last.)none
Ai bác bỏ đời sau, không ác nào không làm.Kinh Pháp cú (Kệ số 176)
Hoàn cảnh không quyết định nơi bạn đi đến mà chỉ xác định nơi bạn khởi đầu. (Your present circumstances don't determine where you can go; they merely determine where you start.)Nido Qubein
Tôi tìm thấy hy vọng trong những ngày đen tối nhất và hướng về những gì tươi sáng nhất mà không phê phán hiện thực. (I find hope in the darkest of days, and focus in the brightest. I do not judge the universe.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Người ta có hai cách để học hỏi. Một là đọc sách và hai là gần gũi với những người khôn ngoan hơn mình. (A man only learns in two ways, one by reading, and the other by association with smarter people.)Will Rogers

Trang chủ »» Danh mục »» SÁCH Y HỌC THƯỜNG THỨC »» Viêm gan - Biết để sống tốt hơn »» CHƯƠNG II: VIÊM GAN SIÊU VI A »»

Viêm gan - Biết để sống tốt hơn
»» CHƯƠNG II: VIÊM GAN SIÊU VI A


Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục 

       

Viêm gan - Biết để sống tốt hơn - CHƯƠNG II: VIÊM GAN SIÊU VI A

Font chữ:

I.Khái quát về bệnh viêm gan siêu vi A

Viêm gan siêu vi A là loại viêm gan được xếp vào loại bệnh truyền nhiễm có mặt ở hầu hết khắp nơi trên thế giới.

Siêu vi A – hepatitis A virus, thường được viết tắt là HAV – sinh trưởng nhanh và rất dễ lây lan trong môi trường, qua thức ăn, nước uống, các chất thải... Vì điều kiện lây lan quá dễ dàng nên bệnh rất thường bộc phát thành những cơn dịch và lan tràn khắp trong một vùng.

Các điều kiện vệ sinh môi trường đóng vai trò quan trọng trong sự bùng phát của một cơn dịch bệnh loại này. Vì thế, các nước nghèo hoặc đang phát triển có tỷ lệ nhiễm siêu vi A vượt xa các nước phát triển. Tuy nhiên, ngay cả ở những nước phát triển thì hiện nay vẫn chưa khống chế được hoàn toàn sự lây lan của loại siêu vi này. Chẳng hạn như tại Hoa Kỳ, siêu vi A bộc phát thành dịch khoảng 10 năm một lần, và gần đây nhất là vào năm 1995 đã có hàng trăm ngàn người cùng lúc nhiễm bệnh chỉ trong vòng một vài tháng. Và bình thường thì mỗi năm ở Hoa Kỳ có khoảng từ 125.000 đến 200.000 ngàn người nhiễm bệnh này.

Theo lịch sử còn ghi lại, khoảng từ thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên người ta đã nhận biết những trận dịch “vàng da” xảy ra tại nhiều vùng khác nhau trên thế giới, nhất là ở những khu đông dân cư. Theo như được mô tả, bệnh nhân đang khỏe mạnh bỗng dưng bị đau bụng, tiêu chảy và vàng da. Tất nhiên, vào thời đó người ta không thể hiểu được nguyên nhân.

Vào thời gian đệ nhị thế chiến (1939 – 1945), có một cơn dịch lan tràn nhanh chóng tại nước Đức, làm cho khoảng 200 ngàn lính Mỹ và hơn 5 triệu dân địa phương bỗng nhiên mắc bệnh. Vì không hiểu được nguyên nhân rõ ràng, người ta quy cho rằng các bệnh nhân đã bị nhiễm độc trong nước uống.

Mãi đến năm 1973, người ta mới lần đầu tiên nhận diện được siêu vi gây bệnh viêm gan A trong cơ thể người bệnh. Với khám phá này, y học mới hiểu ra được nguyên nhân của những cơn dịch bệnh bí ẩn trước đây.

Khoảng đầu năm 1988, bệnh viêm gan siêu vi A đột nhiên bộc phát nhanh chóng tại Thượng Hải. Chỉ trong vòng 2 tháng, hơn 300.000 người đã nhiễm bệnh viêm gan A.

Không chỉ là ở những nước chậm phát triển, ngay cả tại Hoa Kỳ viêm gan siêu vi A vẫn đang là một căn bệnh truyền nhiễm đáng ngại, với khoảng 10 đến 20% số bệnh nhân nhiễm bệnh phải đưa vào bệnh viện điều trị.

Viêm gan siêu vi A không phải là căn bệnh nghiêm trọng lắm. Thường có ít triệu chứng bệnh, và nếu có cũng khó phân biệt được với một số bệnh khác. Chẳng hạn, nói chung thì người bệnh có thể nôn ói, mệt mỏi, vàng da... một số trường hợp có thể gây tiêu chảy... đều là những triệu chứng có thể thấy ở nhiều bệnh khác. Trong phần lớn trường hợp bệnh nhân tự khỏi bệnh mà không cần phải điều trị, và thật ra thì cho đến nay cũng chưa có thuốc đặc trị viêm gan siêu vi A. Người ta chỉ làm công việc theo dõi các triệu chứng và can thiệp để đảm bảo sức khoẻ bệnh nhân khi cần thiết mà thôi.

Về diễn tiến của bệnh, viêm gan A không gây ra viêm gan mạn tính, vì thế cũng không dẫn đến các hệ quả nghiêm trọng về sau như chai gan hoặc ung thư gan. Hơn thế nữa, mỗi người chỉ mắc phải viêm gan siêu vi A gần như một lần duy nhất trong đời, bởi vì sau đó cơ thể sẽ tạo ra kháng thể chống siêu vi A giúp người bệnh trở nên miễn nhiễm với bệnh này.

Mặc dù được xem là “hiền” nhất trong các bệnh viêm gan do siêu vi gây ra, với hơn 90% số người nhiễm bệnh có thể tự nhiên khỏi bệnh mà không cần đến sự can thiệp hỗ trợ nào từ bên ngoài, nhưng viêm gan siêu vi A vẫn có một số rất ít trường hợp chuyển biến sang thể ác tính, và vẫn gây một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân tử vong. Mỗi năm, riêng tại Hoa Kỳ có chừng 100 người chết vì viêm gan siêu vi A. Nếu so trên tổng số người nhiễm bệnh được ước chừng trung bình khoảng 150.000 người thì tỷ lệ tử vong chưa đến 0,7 phần ngàn. Hầu hết các trường hợp là do bệnh nhân đã suy sụp vì các bệnh khác kèm theo hoặc do quá già yếu.

Điều làm người ta lo sợ đối với viêm gan siêu vi A là tính cách bộc phát quá dễ dàng của nó. Chỉ trong một thời gian ngắn có thể có đến hàng trăm ngàn người cùng lúc nhiễm bệnh, và điều đó gây ảnh hưởng lớn lao cho sinh hoạt chung trong cộng đồng. Chưa nói đến mối nguy hiểm đặt ra cho những người sức khoẻ đang suy yếu hoặc già cả, mất sức. Vì vậy, hiện nay các nước phát triển đều đang đẩy mạnh việc chủng ngừa rộng rãi siêu vi A để đi đến chỗ tiêu diệt hẳn căn bệnh này. Chúng ta sẽ trở lại việc chủng ngừa siêu vi A trong một phần sau.

II. Vài đặc điểm của siêu vi A

Siêu vi A có nhiều trong mồ hôi, nước bọt, nước tiểu, nhưng nhiều nhất là trong phân của người có bệnh.

Trong tự nhiên, siêu vi A hiện diện hầu như khắp nơi trên thế giới, nhưng nhiều hơn ở các nước chậm tiến, kém mở mang, do điều kiện vệ sinh môi trường kém hơn.

Khi siêu vi A theo thức ăn hoặc nước uống xâm nhập vào cơ thể, chúng liền tập trú ngay vào các tế bào gan và sinh trưởng cực nhanh. Từ đó, một số lớn vi khuẩn sẽ theo ống dẫn mật xuống đường ruột và theo phân đi ra ngoài. Đó là lý do vì sao trong phân người bệnh chứa nhiều siêu vi A hơn cả.

Về cấu trúc, siêu vi A có một lớp vỏ bọc rất kiên cố, có thể giúp chúng sống sót được trong nhiều năm với nhiệt độ lạnh đến âm 20 độ C. Hoặc nếu như bị làm khô đi, siêu vi A vẫn có thể tiếp tục giữ nguyên vẹn trạng thái trong vòng nhiều tuần lễ.

Với sự tồn tại và lan truyền dễ dàng trong tự nhiên, các vùng bùn lầy nước đọng có thể là nơi tập trung đến của siêu vi A. Từ đó, chúng xâm nhập vào cơ thể các loài sinh vật sống ở đây và tồn tại trong đó. Khi con người bắt lấy các loài sò, ốc, tôm, cua... để ăn, có thể sẽ bị nhiễm siêu vi A đang nằm chờ sẵn trong cơ thể của các loài này. Ngay cả việc xuống tắm trong các ao hồ ấy cũng có thể là nguyên nhân nhiễm bệnh.

Thức ăn nấu kỹ có thể diệt được siêu vi A khá dễ dàng, vì chỉ cần độ nóng trên 85 độ C kéo dài hơn một phút là chúng sẽ bị tiêu huỷ. Tiếc thay, nhiều người không đủ cẩn thận ngay cả đến mức đó.

Vì thế, các nguồn nhiễm bệnh chính của bệnh viêm gan siêu vi A là nước uống không đun sôi, thức ăn không nấu chín hoàn toàn hoặc ăn sống như rau cải, trái cây, và tiếp xúc trực tiếp với người bệnh hoặc các đồ dùng của người bệnh có mang siêu vi.

Vệ sinh môi trường và “ăn chín uống chín” là các biện pháp phòng ngừa hữu hiệu. Người có bệnh cũng cần phải tự giác giữ vệ sinh để tránh lây lan cho người khác. Một biện pháp an toàn và hiệu quả khác nhưng phải tốn kém, đó là tiêm chủng ngừa siêu vi A cho tất cả mọi người.

III. Xác định bệnh viêm gan siêu vi A

Vì các triệu chứng bệnh thường mờ nhạt hoặc không có, hoặc dễ nhầm lẫn với nhiều loại bệnh khác, nên cho đến nay thử máu vẫn là phương pháp duy nhất để xác định bệnh viêm gan.

Trong thời gian bệnh, chất kháng thể chống siêu vi A (HAV-IgM) sẽ được phát hiện thấy, và tăng cao trong thời gian bệnh cấp. Dùng kính hiển vi điện tử cũng có thể phát hiện được siêu vi A trong máu và phân. Nhưng khi người bệnh đã phát bệnh, các vi khuẩn này chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn và sẽ bị cơ thể tiêu diệt hoàn toàn bằng kháng thể. Sau đó, bệnh nhân được miễn nhiễm gần như suốt đời.

Người đã có khả năng miễn nhiễm đối với siêu vi A sẽ có một loại kháng thể chống siêu vi A (HAV-IgG) trong cơ thể, có khả năng tiêu diệt tất cả siêu vi A khi chúng xâm nhập vào cơ thể.

IV. Diễn tiến của bệnh viêm gan siêu vi A

Như đã nói, bệnh viêm gan siêu vi A chỉ gây ra sưng gan cấp tính (acute inflammation) chứ không đưa đến các biến chứng lâu dài như sơ gan (fibrosis), chai gan (cirrhosis) hoặc ung thư gan (liver cancer), như các bệnh viêm gan do siêu vi B, C và D.

Triệu chứng ban đầu của bệnh viêm gan siêu vi A có thể thay đổi tùy theo thể trạng hoặc độ tuổi của bệnh nhân khi nhiễm bệnh. Càng trẻ tuổi thì các triệu chứng bệnh càng nhẹ hơn. Hơn 80% trẻ em dưới 2 tuổi khi nhiễm bệnh thường không có bất cứ một triệu chứng nào. Ngược lại, hơn 80% bệnh nhân lớn hơn 6 tuổi sẽ có những triệu chứng bệnh từ nhẹ đến rất nặng như nôn ói, mệt mỏi, vàng da hoặc đôi khi tiêu chảy... Bệnh nhân càng lớn tuổi, các triệu chứng bệnh càng trầm trọng hơn.

Tùy theo sức khỏe của mỗi người, bệnh có thể phát triển theo một trong 5 khả năng tiên liệu như sau đây.

1. Viêm gan không triệu chứng (asymp¬tomatic hepatitis)

Đây là trường hợp của hầu hết các trẻ em khi bị nhiễm bệnh viêm gan A. Mặc dù siêu vi A sinh sôi nẩy nở nhanh chóng trong cơ thể, các em vẫn tiếp tục chơi đùa vui vẻ. Và vì thế, các em có thể lây bệnh của mình cho những người chung quanh một cách dễ dàng vì không có dấu hiệu gì để biết mà phòng ngừa.

Một số người lớn cũng vẫn có thể nhiễm bệnh theo cách này, hoặc có rất ít các triệu chứng. Bệnh diễn tiến âm thầm đến mức độ sau khi nhiễm bệnh và khỏi bệnh mà bệnh nhân có thể vẫn hoàn toàn không hề hay biết. Tuy vậy, sau đó thì cơ thể bệnh nhân sẽ tạo ra kháng thể chống siêu vi A, và điều này có thể xác định được qua việc thử máu.

2. Viêm gan tiêu biểu (classical hepatitis) Theo diễn tiến trong trường hợp này thì thời gian khoảng từ 15 đến 50 ngày sau khi bị nhiễm siêu vi A, bệnh nhân vẫn sinh hoạt khỏe mạnh bình thường. Sau đó, đột nhiên cảm thấy khó chịu, nóng sốt. Bệnh phát triển nhanh chóng trong vòng 24 giờ sau đó, kèm theo những triệu chứng phát triển như buồn nôn, khó chịu, đau bụng, biếng ăn, tiêu chảy, đau nhức khớp xương. Một số bệnh nhân có triệu chứng vàng da và mắt. Nước tiểu chuyển sang rất sậm màu.

Trong khoảng hơn 90% trường hợp, bệnh sẽ kéo dài từ một vài ngày đến một vài tuần lễ, rồi tự nhiên bệnh từ từ giảm dần trong một vài tuần kế tiếp, không cần do tác động của thuốc điều trị.

Triệu chứng đôi khi rất nhẹ và mơ hồ nên có thể bị nhầm lẫn với những cơn cảm cúm sơ sài. Bệnh thường không gây trở ngại đáng kể trong công việc làm hàng ngày của bệnh nhân.

Nếu thử máu trong thời gian có triệu chứng vàng da, sẽ thấy hàm lượng men gan (ALT) tăng cao trong một thời gian ngắn.

3. Viêm gan vàng da mạn tính (cholestatic hepatitis)

Trong trường hợp này, bệnh nhân cũng bắt đầu có những triệu chứng giống như trên, nhưng da và mắt sau đó tiếp tục có màu vàng, cho dù hàm lượng men gan đã trở lại bình thường như trước.

Hiện tượng vàng da này có thể kéo dài từ một đến ba tháng. Bệnh nhân tuy có bề ngoài bệnh hoạn vì màu vàng của da và mắt, nhưng thường cảm thấy ngày một khỏe hơn.

Với những trường hợp này, bệnh nhân cần được hoạt động bình thường ngoài trời để thúc đẩy quá trình hồi phục sức khoẻ, nhưng do thiếu hiểu biết, nhiều người thường nhốt mình hoặc bị nhốt mình trong nhà vì sợ lây lan sang người khác. Thật ra, đối với siêu vi A thì giai đoạn có khả năng lây lan nhiều là giai đoạn nhiễm khuẩn nhưng chưa phát bệnh, thường cao nhất là khoảng 2 tuần trước khi phát bệnh. Còn vào giai đoạn hồi phục thì khả năng lây lan không còn nữa.

4. Viêm gan tái phát (relapsing hepatitis)

Khoảng 10% bệnh nhân viêm gan siêu vi A có thể sẽ bị tái phát. Sau khi bệnh có dấu hiệu như đã lành bệnh, bệnh nhân lại bỗng dưng phát bệnh trở lại với những triệu chứng như trên, kéo dài thêm một vài tuần lễ nữa.

Bệnh có thể tái phát hai hay nhiều lần trước khi hoàn toàn dứt hẳn. Trong một số trường hợp bệnh nhân chỉ cảm thấy mệt mỏi, giảm sức khoẻ, dễ mệt, dễ kiệt sức, biếng ăn và do đó giảm trọng lượng cơ thể trong vòng nhiều tháng.

Khi được thử máu, men gan (ALT) tăng cao rồi bình thường trở lại theo từng chu kỳ. Tuy nhiên, cuối cùng rồi bệnh cũng sẽ hoàn toàn biến mất và không để lại bất cứ một di chứng nào lâu dài.

5. Viêm gan ác tính (fulminant hepatitis)

Nhức đầu, cảm sốt, nóng lạnh thất thường, ói mửa và tiêu chảy có thể là những triệu chứng của bệnh viêm gan siêu vi A ác tính.

Chỉ có khoảng 3 phần ngàn bệnh nhân có khả năng rơi vào trường hợp này. Tuy là một tỷ lệ rất thấp, nhưng điều nguy hiểm là nó có thể dẫn đến tử vong. Bệnh nhân có thể thiệt mạng một cách rất nhanh chóng. Tuy nhiên, khách quan mà nói thì tử vong thường còn là do bệnh nhân có mắc kèm một bệnh khác gây suy yếu cho cơ thể, hoặc những người già yếu, suy nhược.

V. Điều trị bệnh viêm gan siêu vi A

1. Thuốc điều trị

Nói là “điều trị” là nói theo thói quen với hầu hết các loại bệnh tật, nhưng thật ra đối với bệnh viêm gan siêu vi A thì đến nay vẫn chưa có loại thuốc nào để “điều trị” theo đúng nghĩa.

Người ta đã tiến hành thử nghiệm nhiều loại thuốc như methionine, choline, cortisol, amatan¬dine, hoạt chất trích ly từ gan, kích thích tố nữ estrogen... trong việc chữa trị các trường hợp viêm gan siêu vi A cấp tính. Gần đây nhất, một số thuốc mới với khả năng tiêu diệt các vi khuẩn loại DNA và RNA trên nhiều phương diện khác nhau cũng đang được thử nghiệm. Các điển hình được dùng là Ribavirin, Isoprinosine, Levamisole ... Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có một phương pháp nào chứng tỏ được hiệu quả trong việc rút ngắn thời gian bệnh, một khi siêu vi A đã xâm nhập và bắt đầu tăng trưởng nhanh trong cơ thể người bệnh.

Vì thế, những can thiệp hữu hiệu vào các trường hợp bệnh thường là gián tiếp thông qua việc bảo vệ và nâng cao sức khoẻ của người bệnh.

Với những hiểu biết này, chúng ta có thể thấy được việc dùng thuốc nhiều để mong muốn “điều trị” nhanh chóng bệnh viêm gan siêu vi A thường chỉ có hại hơn là có lợi.

Điều này cũng cần được chú ý. Do vì chức năng hoạt động của gan là thanh lọc các độc tố, kể cả các độc tố của thuốc điều trị dùng không chính xác, nên trong thời gian gan bị bệnh, nếu chúng ta dùng thuốc bừa bãi sẽ chẳng khác nào một đòn đánh bồi, buộc gan phải làm việc nhiều hơn thay vì là được nghỉ ngơi để chống lại bệnh.

Vì thế, việc dùng thuốc điều trị bệnh viêm gan siêu vi A cần phải hết sức thận trọng vì thường là vô ích và có nhiều khả năng gây hại. Trước khi dùng bất cứ loại thuốc nào, tốt nhất là phải có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa điều trị.

2. Nghỉ ngơi

Không tác động gì được nhiều bằng thuốc men, nên việc nghỉ ngơi dưỡng sức cho bệnh nhân trong thời gian bệnh và sau khi bệnh là điều hợp lý và cần thiết.

Bệnh nhân nên nghỉ ngơi và không nên làm việc quá nặng nhọc. Nên thay đổi cách thức ăn uống trong một thời gian ngắn, tránh những thức ăn quá nhiều dầu mỡ hoặc khó tiêu. Nên bồi dưỡng với những thức ăn và nước uống chứa nhiều chất đường hoặc tinh bột. Nên ăn khoảng 3000 đến 4000 calory mỗi ngày trong thời gian bị bệnh, mặc dù nhu cầu trung bình của chúng ta chỉ cần khoảng 1.800 đến 2.200 calory mỗi ngày.

Tuy nhiên, nghỉ ngơi đối với bệnh viêm gan siêu vi A không có nghĩa là nằm yên một chỗ. Khi người bệnh có thể hoạt động được, hoặc thậm chí nếu cảm thấy có đủ khả năng thực hiện công việc hàng ngày như bình thường, điều đó rất tốt. Chỉ cần chú ý không gắng sức hoặc đừng làm việc cho đến khi quá mệt. Lao động vừa phải sẽ giúp cơ thể dễ hồi phục hơn là nằm yên thụ động.

Nếu không có triệu chứng nôn mửa, thì việc ăn uống có thể giữ bình thường theo khẩu vị mà không cần kiêng cử thái quá. Vấn đề quan trọng hơn là người bệnh cần ăn sao cho ngon miệng để ăn được nhiều, vì trong trường hợp này gan vẫn còn hoạt động tốt chứ chưa đến nỗi “bỏ việc”.

3. Điều trị triệu chứng

Trong trường hợp các triệu chứng bệnh gây khó chịu rất nhiều cho bệnh nhân, việc điều trị triệu chứng cũng có thể được áp dụng.

Các thuốc thường dùng trong trường hợp này nhằm giúp bệnh nhân giảm đau nhức, chống tiêu chảy hoặc để bớt nôn mửa...

Tuy nhiên, như đã trình bày ở phần trên, chỉ nên dùng thuốc trong những trường hợp hết sức cần thiết mà thôi. Sử dụng càng ít thuốc càng tốt, thậm chí không dùng là tốt nhất. Uống thuốc khi gan đang bị viêm chính là làm cho gan phải hoạt động nhiều hơn thay vì nghỉ ngơi dưỡng bệnh. Tuyệt đối không được uống thuốc an thần, thuốc ngủ hoặc các loại thuốc rượu.

Thay vì dùng thuốc, có thể áp dụng một số các phương pháp cổ truyền làm êm dịu khác như xoa bóp, ấn huyệt, xoa dầu nóng, tắm hơi, châm cứu... với điều kiện phải đảm bảo nguyên tắc tiệt trùng. Những can thiệp này đôi khi còn có tác động tâm lý để giúp bệnh nhân không quá lo lắng, và nếu được thực hiện đúng phương pháp, chúng sẽ không làm hại gì đến gan.

4. Khi nào phải vào bệnh viện?

Mặc dù viêm gan siêu vi A được xác định là một bệnh ít nguy hiểm, nhưng vẫn có một tỷ lệ rất nhỏ bệnh diễn tiến xấu. Vì thế, chúng ta không nên chủ quan với tất cả các trường hợp bệnh.

Nếu bệnh nhân bị đau bụng, buồn nôn, ói mửa liên tục và không ăn uống được, cần phải đưa vào bệnh viện để theo dõi điều trị. Trong trường hợp cần thiết, dung dịch dinh dưỡng và thuốc men có thể sẽ được truyền trực tiếp vào cơ thể để giúp bệnh nhân mau hồi sức hơn.

Hầu hết các trường hợp bệnh diễn tiến xấu đều là do thể trạng bệnh nhân quá suy sụp, hoặc do cùng lúc mắc các bệnh khác, hoặc do già yếu hoặc suy nhược cơ thể. Vì thế, việc đưa bệnh nhân vào bệnh viện là cần thiết để có thể có các biện pháp can thiệp cần thiết khi có những diễn tiến bất ngờ.

5. Kết luận

Tóm lại, việc điều trị bệnh viêm gan siêu vi A thay đổi theo từng trường hợp, tùy vào tình trạng sức khỏe của mỗi bệnh nhân.

Nói chung, bệnh chỉ dễ lây lan nhất trong thời gian trước khi phát bệnh. Khi bệnh nhân đã có những triệu chứng bộc lộ ra như vàng da... thì bệnh không còn lây lan nữa. Vì thế, không cần phải cách ly bệnh nhân vì điều đó gây ảnh hưởng xấu về tâm lý cũng như về thể chất.

Việc chú ý bồi dưỡng và để cho người bệnh có điều kiện nghỉ ngơi không phải làm việc quá sức là cần thiết. Và điều quan trọng nhất cần chú ý là tuyệt đối không uống rượu, cũng như không dùng bất cứ loại thuốc điều trị nào mà không có sự chỉ định của bác sĩ.

VI. Chủng ngừa bệnh viêm gan siêu vi A

1. Ích lợi của việc chủng ngừa

Chủng ngừa là phương pháp tốt nhất để đối phó với hầu hết mọi căn bệnh, trừ ra những căn bệnh quái ác mà đến nay chúng ta vẫn chưa có thuốc để chủng ngừa.

May mắn thay, thuốc chủng ngừa viêm gan A hiện nay sẵn có và rất an toàn, hiệu quả. Việc chủng ngừa xét trên phạm vi toàn xã hội có thể tuần tự đạt được các mục tiêu từ thấp đến cao như sau đây:

Ở mức độ thấp nhất, việc dùng thuốc chủng ngừa bảo vệ cho người được chủng ngừa không bị nhiễm bệnh, ngay cả trong trường hợp khi đang xảy ra dịch bệnh.

Được sử dụng rộng rãi hơn, thuốc chủng ngừa giúp ngăn chặn sự lan rộng của bệnh, vì giảm số người mắc bệnh cũng là giảm các nguồn lây lan bệnh.

Nếu được áp dụng cho tất cả mọi người, có thể diệt trừ hoàn toàn căn bệnh.

2. Đối tượng cần được chủng ngừa

Mặc dù lợi ích của việc tiêm chủng ngừa bệnh viêm gan siêu vi A là không thể phủ nhận được, nhưng trong thực tế không phải bao giờ người ta cũng có đủ điều kiện để thực hiện việc chủng ngừa toàn diện, nhất là ở các nước nghèo hoặc các nước đang phát triển. Vì thế, các đối tượng sau đây có thể cần được xem xét ưu tiên trước các đối tượng khác.

1. Trẻ em sinh trưởng ở những vùng có nguy cơ nhiễm bệnh cao.

2. Trẻ em được đưa đến sống ở những vùng có nguy cơ nhiễm bệnh cao.

3. Khách du lịch hoặc đi công tác đến các vùng đang có nguy cơ nhiễm bệnh.

4. Người lớn tuổi, già yếu hoặc suy nhược khi thử máu không có sự hiện diện của kháng thể chống siêu vi A (HAV-IgG).



Đối với bản thân mỗi người, có thể tự quyết định việc có nên tiêm chủng ngừa hay không căn cứ vào môi trường sinh sống và làm việc của mình, cũng như tuỳ theo khả năng tài chánh cho phép.

3. Các phương pháp chủng ngừa hiện nay Hiện nay có hai phương pháp chủng ngừa khác nhau là chủng ngừa chủ động (active vaccin¬ation) và chủng ngừa thụ động (passive vaccin¬ation).

a. Chủng ngừa chủ động (active vaccination)

Trong phương pháp chủng ngừa này, thuốc chủng ngừa được đưa vào cơ thể để kích thích cơ thể tự tạo ra chất kháng thể chống siêu vi A (Immune Globulin, viết tắt là IG). Với phương pháp này, người chủng ngừa đạt hiệu quả có thể được miễn nhiễm suốt đời đối với bệnh viêm gan siêu vi A. Tuy nhiên, thuốc chủng cần có một thời gian để phát huy tác dụng, hay nói đúng hơn là cơ thể cần một thời gian để tạo ra kháng thể rồi người tiêm chủng mới được miễn nhiễm.

Có các loại thuốc chủng ngừa viêm gan siêu vi A được chế tạo theo phương pháp không hoàn toàn giống nhau, nhưng đều đạt đến hiệu quả như nhau.

Thuốc được dùng cho bệnh nhân từ hai tuổi trở lên. Thông thường chỉ cần chích hai lần. Mỗi lần cách nhau từ 6 đến 12 tháng. Khoảng 94% đến 100% bệnh nhân đã được miễn nhiễm một tháng sau mũi chích đầu tiên. Sau mũi thứ hai, kết quả sẽ tốt đẹp hơn và khả năng miễn nhiễm sẽ kéo dài lâu hơn. Có thể chắc chắn là hơn 7 hoặc 8 năm nhưng cũng có thể kéo dài suốt đời. Vì thuốc rất hiệu quả nên sau khi được chủng ngừa không cần phải thử máu để xem có kháng thể hay chưa.

Nếu là chủng ngừa trước khi phải đi đến vùng có nguy cơ nhiễm bệnh, nên chủ động chích ngừa trước khi đi ít nhất là 4 tuần. Vì thế, nếu cần phải đi ngay người ta sẽ áp dụng phương pháp chủng ngừa thụ động.

b. Chủng ngừa thụ động (passive vacci¬nation)

Đây là phương pháp đưa thẳng chất kháng thể chống siêu vi A vào cơ thể. Với phương pháp này, người được chủng ngừa sẽ ngay tức thời có được khả năng miễn nhiễm. Tuy nhiên, hiệu lực của thuốc chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. Vì vậy, phương pháp này chỉ được sử dụng tạm thời khi có yêu cầu bảo vệ ngay lập tức. Thường thì sau khi sử dụng phương pháp này, người ta sẽ tiếp tục dùng phương pháp chủng ngừa chủ động.

Khi cần chủng ngừa cấp tốc hoặc chủng ngừa cho trẻ em dưới 2 tuổi thì đây là phương pháp bắt buộc phải dùng đến. Theo phương pháp này, một lượng huyết thanh có kháng thể (immune globulin) vừa phải sẽ được tiêm thẳng vào mạch máu hoặc bắp thịt. Số lượng thuốc là 0.02 ml cho mỗi kilogram trọng lượng cơ thể. Chất đề kháng được bào chế từ huyết tương của những người hiến máu, nhưng nhờ vào kỹ thuật bào chế tối tân hiện nay nên độ tinh khiết và an toàn của thuốc đến nay được xem là tuyệt đối, chưa hề lây bệnh truyền nhiễm cho bất cứ một ai.

Thuốc rất an toàn, nên ngay cả phụ nữ có thai hoặc cho con bú vẫn có thể dùng được. Chỉ trong một số rất ít trường hợp có thể có một vài phản ứng phụ hoặc biến chứng như đau nhức, ngứa, ngất xỉu ... Tuy nhiên, những trường hợp như vậy rất hiếm khi xảy ra.

Để đảm bảo hiệu quả kháng bệnh về lâu dài, phương pháp chủng ngừa thụ động này nên được dùng kèm theo với phương pháp chủng ngừa chủ động.

    « Xem chương trước «      « Sách này có 10 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này

Lượt xem: 673  

Quý vị đang truy cập từ IP 54.81.210.99 (911331939) và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Chúc Độ Rộng Mở Tâm Hồn Bảo Cẩm Rộng Mở Tâm Hồn baole Rộng Mở Tâm Hồn hatran Rộng Mở Tâm Hồn Thích Nhật Mỹ Rộng Mở Tâm Hồn a du Rộng Mở Tâm Hồn Huỳnh thị chuyền Rộng Mở Tâm Hồn Vanthien Rộng Mở Tâm Hồn ducanhxautrai Rộng Mở Tâm Hồn FANEAU Rộng Mở Tâm Hồn Hồng Sơn Rộng Mở Tâm Hồn Thuan Quan Rộng Mở Tâm Hồn Lê Thị Thuận Rộng Mở Tâm Hồn Bửu Phương Rộng Mở Tâm Hồn Yên Thiên Rộng Mở Tâm Hồn Lac Dieu Chan Rộng Mở Tâm Hồn Đồng Liên Rộng Mở Tâm Hồn Dũng Đặng Rộng Mở Tâm Hồn HUYNH KIM BINH Rộng Mở Tâm Hồn Nhuận Hoà Minh Rộng Mở Tâm Hồn Chơn Hòa Rộng Mở Tâm Hồn Quoc Phan Rộng Mở Tâm Hồn Lý triệu vy Rộng Mở Tâm Hồn Bữu Phước Rộng Mở Tâm Hồn Jerry Rộng Mở Tâm Hồn BangTam04101989 Rộng Mở Tâm Hồn NhatPhienBangTam041089 Rộng Mở Tâm Hồn Hoàng Ân 1324578905 Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Vân Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Trí 1975 Rộng Mở Tâm Hồn Giác Vân Rộng Mở Tâm Hồn Tâm châu Rộng Mở Tâm Hồn Ngọc Chi Rộng Mở Tâm Hồn Phan văn Hoàng Rộng Mở Tâm Hồn Cang nguyen Rộng Mở Tâm Hồn Suthivu Rộng Mở Tâm Hồn Nguyen Thi Ngoc dung Rộng Mở Tâm Hồn Đàm oanh Rộng Mở Tâm Hồn duong an Rộng Mở Tâm Hồn Bồ Công Anh ... ...

Việt Nam (20.141 lượt xem) - Hoa Kỳ (7.406 lượt xem) - Đức quốc (1.145 lượt xem) - Pháp quốc (781 lượt xem) - Australia (131 lượt xem) - Anh quốc (129 lượt xem) - Phần Lan (30 lượt xem) - Trung Hoa (30 lượt xem) - Central African Republic (22 lượt xem) - Cambodia (7 lượt xem) - Ấn Độ (5 lượt xem) - Nga (3 lượt xem) - Đài Loan (3 lượt xem) - Iran (2 lượt xem) - Hong Kong (1 lượt xem) - Thái Lan (1 lượt xem) - Hà Lan (1 lượt xem) - ... ...