Mỗi ngày khi thức dậy, hãy nghĩ rằng hôm nay ta may mắn còn được sống. Ta có cuộc sống con người quý giá nên sẽ không phí phạm cuộc sống này.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV

Ngủ dậy muộn là hoang phí một ngày;tuổi trẻ không nỗ lực học tập là hoang phí một đời.Sưu tầm
Lửa nào sánh lửa tham? Ác nào bằng sân hận? Khổ nào sánh khổ uẩn? Lạc nào bằng tịnh lạc?Kinh Pháp Cú (Kệ số 202)
Nhà lợp không kín ắt bị mưa dột. Tâm không thường tu tập ắt bị tham dục xâm chiếm.Kinh Pháp cú (Kệ số 13)
Hạnh phúc không tạo thành bởi số lượng những gì ta có, mà từ mức độ vui hưởng cuộc sống của chúng ta. (It is not how much we have, but how much we enjoy, that makes happiness.)Charles Spurgeon
Cơ học lượng tử cho biết rằng không một đối tượng quan sát nào không chịu ảnh hưởng bởi người quan sát. Từ góc độ khoa học, điều này hàm chứa một tri kiến lớn lao và có tác động mạnh mẽ. Nó có nghĩa là mỗi người luôn nhận thức một chân lý khác biệt, bởi mỗi người tự tạo ra những gì họ nhận thức. (Quantum physics tells us that nothing that is observed is unaffected by the observer. That statement, from science, holds an enormous and powerful insight. It means that everyone sees a different truth, because everyone is creating what they see.)Neale Donald Walsch
Ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ, ý tạo; nếu với ý ô nhiễm, nói lên hay hành động, khổ não bước theo sau, như xe, chân vật kéo.Kinh Pháp Cú (Kệ số 1)
Chúng ta thay đổi cuộc đời này từ việc thay đổi trái tim mình. (You change your life by changing your heart.)Max Lucado
Tinh cần giữa phóng dật, tỉnh thức giữa quần mê.Người trí như ngựa phi, bỏ sau con ngựa hèn.Kính Pháp Cú (Kệ số 29)
Thiên tài là khả năng hiện thực hóa những điều bạn nghĩ. (Genius is the ability to put into effect what is on your mind. )F. Scott Fitzgerald
Vui thay, chúng ta sống, Không hận, giữa hận thù! Giữa những người thù hận, Ta sống, không hận thù!Kinh Pháp Cú (Kệ số 197)

Trang chủ »» Danh mục »» Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: phệ đà »»

Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: phệ đà








KẾT QUẢ TRA TỪ


phệ đà:

(吠陀) Phạm, Pàli: Veda. Hán âm: Phệ đà, Vi đà, Tì đà, Bệ đà, Tỉ đà, Bì đà. Hán dịch: Trí, Minh, Minh trí, Minh giải, Phân. Cũng gọi Vi đà luận, Tì đà luận kinh, Bệ đà chú, Trí luận, Minh luận. Danh từ gọi chung cácthánh điển của Bà la môn giáo Ấn độ. Nguyênnghĩalà tri thức, tức là kho báu tri thức thần thánh, là văn hiến cơ bản của Bà la môn giáo. Là văn hiến tông giáo có quan hệ mật thiết với nghi thức cúng tế. Về niên đại thành lập sách Phệ đà có nhiều thuyết khác nhau. Thông thường, người ta suy đoán rằng nó được hoàn thành vào thời gian người Aryan từ Tây bắc xâm nhập và định cư ở vùng Ngũ hà (Phạm: Paĩjab) thuộc lưu vực sông Ấn độ (Indus). Kinh Phệ đà nguyên có 3 loại: Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda), Sa ma phệ đà (Phạm: Sàma-veda) và Dạ nhu phệ đà (Phạm: Yajur-veda). Ba bộ này gọi là Tam minh, Tam phệ đà, Tam vi đà luận, Tam bộ cửu điển. Sau thêm A thát bà phệ đà (Phạm: Atharva-veda) nữa thành 4 bộ Phệ đà. 1. Lê câu phệ đà (cũng gọi Hà lực phệ đà, Hiệt lực bệ đà, Tín lực tì đà). Hán dịch: Tán tụng minh luận, Tác minh thực thuyết. TứcPhệ đà có liên quan đến Tán ca (Phạm: Fc). Thời thái cổ, người Aryan di cư đến vùng Ngũ hà của Ấn độ, họ sùng bái thần tự nhiên, làm những bài ca để tán tụng thần, rồi gom góp lại mà thành sách Lê câu phệ đà, là gốc của 4 bộ Phệ đà, về sau trở thành kinh điển tế tự của Khuyến thỉnh tăng (Phạm: Hotf). Bộ Phệ đà này là Thánh điển xưa nhất của thế giới, hình thành vào khoảng từ 1400 năm đến 1000 năm trước Tây lịch, gồm 10 quyển, tổng cộng có 1.017 thiên Tán ca (bổ sung 11 thiên nữa thành 1.028 thiên), 10.580 bài tụng. 2. Sa ma phệ đà (cũng gọi Sa ma bệ đà, Tam ma phệ đà). Hán dịch: Bình, Đẳng, Ca vịnh minh luận, Tác minh mĩ ngôn, Lễ nghi mĩ ngôn trí luận. Là Phệ đà có liên quan đến việc ca vịnh và Toàn luật (Phạm: Sàman). Là Thánh điển dùng trong việc cúng tế, gồm những bài tán ca và những ca khúc do Ca vịnh tăng (Phạm: Udgàtf) ngâm vịnh trong các nghi thức tế lễ như Tô ma tế..., có 2 quyển, 1.810 bài tụng (bỏ những bài trùng lắp thì có 1.549 bài tụng, phần nhiều được sao chép từ bộ Lê câu phệ đà, chỉ có 78 bài tụng mới). 3. Dạ nhu phệ đà (cũng gọi Dã thụ phệ đà, Da thụ bệ đà, Da thụ tì đà, Dạ thù tì đà). Hán dịch: Từ, Tế từ, Tác minh cúng thí, Tế tựtrí luận, Tế tự minh luận. Tức Phệ đà có liên quan đến việc tế tự, gồm những văn chú và chú thích văn chú mà Hành tế tăng (Phạm: Adhvaryu) xướng tụng, được biên soạn sau Lê câu phệ đà. Có 2 loại: a) Hắc dạ nhu phệ đà (Phạm: Kfwịayajur-veda): Do chính vănPhệ đà (tán ca, tế tự, chú từ...) và Phạm thư (sách chú thích Phệ đà) hợp thành, có 4 thứ (hoặc 5 thứ, 7 thứ, 8 thứ), gồm 13 quyển. b) Bạch dạ nhu phệ đà (Phạm: Zuklayajur-veda): Do tách rời chính văn với Phạm thư, chỉnh đốn lại Hắc dạ nhu và sắp xếp lại những lời giải thích về văn chú mà thành. 4. Athát bà phệ đà (cũng gọi A kiện bệ đà, A tha tì đà, A đà bà tì đà, A vi thát bà). Hán dịch: Chú, Thuật, Chú thuật, Nhương tai, Tác minh hộ hữu, Dị năng hộ phương trí luận, Nhương tai minh luận. Là Phệ đà do thu tập những lời thần chú cầu phúc do Hỏa tế tăng (Phạm: Atharvan) chủ trì; còn những lời thần chú trừ tai họa, nguyền rủa thì do Ương kì la tăng (Phạm: Aígiras) tụng đọc. Bộ Phệ đà này gồm 20 quyển, 731 thiên, 6.000 bài tụng, trong đó có 1.200 bài được sao chép ra từ bộ Lê câu phệ đà. Bốn bộ Phệ đà trên đây, mỗi bộ đều có Phó phệ đà (Phạm: Upa-veda), như Phó phệ đà của Lê câu phệ đà là A luân luận (Phạm: Àyar-veda), Hán dịch Thọ mệnh luận, tức là sách thuốc. Phó phệ đà của Sa ma phệ đà là Kiện thát bà luận (Phạm: Gàndharva-veda), tức là Âm nhạc luận. Phó phệ đà của Dạ nhu phệ đà là Đà nâu luận (Phạm: Dhanuveda), tức là Xạ pháp luận (sách dạy cách bắn cung). Phó phệ đà của A thát bà phệ đà là Vũ khí luận (Phạm: Zastra-zàstra), tức là Quân học.Nội dung của 4 bộ Phệ đà, nói chung, bao gồm Bản tập (Phạm: Saôhità) của 4 Phệ đà, Phạm thư (Phạm: Bràhmaịa, Phạm thư nghĩa hẹp), Sâm lâm thư (Phạm: Àraịyaka) và Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad). Về sau, Phạm thư và Áo nghĩa thư phần nhiều được nghiên cứu riêng biệt. Bản tập củabốn Phệ đà: Thu chép những bài Tán ca, Câu chú, lời tế... Phạm thư (nghĩa hẹp) chia ra làm 2 bộ: Nghi quĩ, Thích nghĩa. Nghi quĩ qui định phương thức và thứ tự tế lễ, cách sử dụng tán ca. Thích nghĩa thì giải thích ý nghĩa, nguồn gốc của tán ca và nguồn gốc, ý nghĩa của tế tự. Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư (cũng gọi Phệ đàn đa) thì nhằm khảo sát và giải thích ý nghĩa đời sống con người. Còn phạm thư theo nghĩa rộng thì bao gồm cả 3 bộ: Phạm thư (nghĩa hẹp), Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư. Bởi thế, khi nói đến Phệ đà, thì Phệ đà nghĩa hẹp chỉ đơn thuần chỉ cho Bản tập, cònPhệ đà nghĩa rộng thì chỉ cho cả Bản tập và Phạm thư (nghĩa rộng). Do sự truyền thừa và giải thích khác nhau, nên đời sau phát sinh nhiều học phái và bản văn bất đồng, tạo thành tổ chức văn hiến phức tạp. Văn hiến Phệ đà được truyền đến ngày nay, tuy chỉ có 1 phần nhỏ, nhưng cũng rất đồ sộ. Phệ đà là văn học thiên khải (Phạm: Zruti, do thiên thần hiển hiện mở bày), tương truyền do các vị đại tiên thời thái cổ y cứ theo sự mở bày của thần linh mà tụng ra, rồi do vị tiên Tì da sa (Phạm: Vyàsa, Hán dịch Quảng bác) sửa chữa lại mà biên tập thành. Bản thân Phệ đà cũng đã là ý nghĩa thần trí thiên khải rồi, cho nên cùng với Phạm thư đều được gọi là Thiên khải, để phân biệt với Kinh (Phạm: Sùtra) do trí thức, trí tuệ của loài người tạo tác và truyền thừa. Đến đời sau, các học phái như Di mạn sai (Phạm: Mìmàôsà), Phệ đàn đa (Phạm: Vedànta)... cho rằng Phệ đà là tiên thiên thường trụ, là tuyệt đối chân thực và chủ trương Thanh thường trụ luận, chính là thừa kế thuyết Thiên khải vậy. Thánh điển thiên khải này phát triển đến đời sau, lại sinh ra nhiều sách vở phụ trợ, đó chính là 6 chi phần Phệ đà (Phạm: Vedàíga). Những chi phần này cùng với 2 bộ Đại tự sự thi Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata), La ma da na (Phạm: Ràmàyana) và bộ Pháp điển Ma nô (Phạm: Mànava Dharma Zàtra)... đều là do Thánh hiền trứ tác, vì thế được gọi là Thánh truyền văn học (Phạm: Smfti). Nội dung của 6 chi phần Phệ đà bao gồm: Ngữ âm học (Phạm: Zikwà), Vận luật học (Phạm: Chandas), Văn pháp học (Phạm: Vyàkasaịa), Ngữ nguyên học (Phạm: Nirukta), Thiên văn lịch học (Phạm: Jyotiwa), Tế nghi cương yếu học (Phạm: Kalpa-sùtra)...Trong đó, Tế nghi cương yếu học là sách vở không thể thiếu để hiểu rõPhệ đà. Ngôn ngữ được sử dụng trong Phệ đà gọi là Phệ đà ngữ (Phạm: Vedic Sanskrit), do thời đại bất đồng mà có các tầng bậc mới cũ. Nhận xét về mặt văn vần (tán ca) và văn xuôi (tự thuật) thì trên văn thể và ngữ pháp đều có sai khác. Đến Áo nghĩa thư thì đã gần với văn Phạm cổ điển. Phệ đà là bộ sách tập hợp tinh túy của văn học Ấn độ cổ đại, là nguồn gốc của tư tưởng Bà la môn chính thống, đặc sắc của Phệ đà là dung hợp 3 yếu tố thần thoại, tông giáo và triết học. Xét về nội dung, phần chứa đựng những tư tưởng tông giáo và triết học là phẩm Trí (Phạm:Jĩànakàịđa), tức Áo nghĩa thư; phần chứa đựng bộ môn tế tự là phẩm Nghiệp (Phạm: Karmakàịđa), tương đương với Phạm thư. Tư tưởng triết học của Phệ đà bắt đầu từ Vũ trụ luận của các bài tán ca được sáng tạo trong Lê câu phệ đà, rồi phát triển thành giáo lí thần thoại phong phú của Đa thần giáo, cuối cùng đạt đến nguyên lí căn bản Phạm Ngã Nhất Như của Áo nghĩa thư, tức là triết học Nhất nguyên luận bất nhị. Thời gần đây, việc nghiên cứuPhệ đà rất được xem trọng. Sự nghiên cứu về phương diện thần cách và thần thoại của Phệ đà đã sản sinh ra tông giáo học và Thần thoại tỉ giảo học... Còn kết quả của việc nghiên cứu Phệ đà ngữ thì đã đóng góp rất lớn cho nềnNgôn ngữ tỉ giảo học. Hiện nay, nguyên điển Phệ đà đã được xuất bản và dịch ra nhiều thứ tiếng như Anh, Đức... [X. kinh Tì da sa vấn Q.thượng; kinh Đại bảo tích Q.120, hộiQuảng bác tiên nhân; kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.10; kinh Đại thừa mật nghiêm Q.thượng; luật Thập tụng Q.38; Hữu bộ bật sô ni tì nại da Q.1; luận Đại tì bà sa Q.14; luận Đại trí độ Q.2; Bách luận sớ Q.thượng, phần cuối; Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí Q.10, phần đầu; Đại đường tây vực kí Q.2; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Ấn độ tam đại thánh điển thiên 1 (Mi văn khai); Ấn độ triết học sử lược, chương 1 (Thang dụng đồng); Ấn độ triết học sử cương thiên 1, chương 1 (Hoàng sám hoa)]. (xt. Tứ Phệ Đà, Áo Nghĩa Thư).


Nếu muốn duyệt qua từng vần trong từ điển,
xin nhập vào ô dưới đây vần tương ứng. Ví dụ: A, B, C...

Nhập vần muốn tra:
Để giới hạn kết quả tìm kiếm chính xác hơn, quý vị có thể nhập 2 hoặc 3 chữ cái đầu vần. Ví dụ, để tìm những chữ như thiền, thiện... quý vị nên nhập thi thay vì t... sẽ cho một kết quả gần với yêu cầu của quý vị hơn.

Quý vị đang truy cập từ IP 54.156.67.164 (916210596) và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn hatran Rộng Mở Tâm Hồn Thiên Bảo 13 Rộng Mở Tâm Hồn Bữu Phước Rộng Mở Tâm Hồn Na tiên Rộng Mở Tâm Hồn Hồ Trăng Vàng Rộng Mở Tâm Hồn Buu Ngoc Rộng Mở Tâm Hồn Quán Phúc Rộng Mở Tâm Hồn khánh32132 Rộng Mở Tâm Hồn Tam Thien Tam Rộng Mở Tâm Hồn seta83 Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Hiền Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Văn Ngọc TN Rộng Mở Tâm Hồn Quảng Chuyên Rộng Mở Tâm Hồn Michael Gilman Rộng Mở Tâm Hồn Phương và gia đình Rộng Mở Tâm Hồn Le thi minh Rộng Mở Tâm Hồn Vũ Thị Đảm Rộng Mở Tâm Hồn Ánh Vy Rộng Mở Tâm Hồn Trí Đức Truyền Rộng Mở Tâm Hồn Mật Hạnh Rộng Mở Tâm Hồn PATRIC Rộng Mở Tâm Hồn Ngawang Tashi Rộng Mở Tâm Hồn Uyên Hà Rộng Mở Tâm Hồn tienpham Rộng Mở Tâm Hồn thuonghylenien Rộng Mở Tâm Hồn Trần hữu phúc Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Lộc 1959 Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Ngọc Luật Rộng Mở Tâm Hồn mlan0147 Rộng Mở Tâm Hồn Vạn Phúc Rộng Mở Tâm Hồn Thích Chánh Đạo Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Văn Thông Rộng Mở Tâm Hồn Ngọc Châu Rộng Mở Tâm Hồn đức toàn Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Hạnh - Tứ Nương Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Tiến Rộng Mở Tâm Hồn tamnhuthuy Rộng Mở Tâm Hồn Giác Đức Hạnh Rộng Mở Tâm Hồn Trvanduc Rộng Mở Tâm Hồn Bill Tran ... ...

Việt Nam (19.853 lượt xem) - Hoa Kỳ (7.456 lượt xem) - Đức quốc (765 lượt xem) - Pháp quốc (316 lượt xem) - Australia (76 lượt xem) - Anh quốc (67 lượt xem) - Đài Loan (22 lượt xem) - New Zealand (Aotearoa) (17 lượt xem) - Trung Hoa (12 lượt xem) - Nga (11 lượt xem) - Ấn Độ (10 lượt xem) - Hong Kong (5 lượt xem) - Thái Lan (3 lượt xem) - Benin (2 lượt xem) - Central African Republic (2 lượt xem) - Singapore (2 lượt xem) - Hà Lan (1 lượt xem) - Nhật Bản (1 lượt xem) - Na-uy (1 lượt xem) - ... ...