Mỗi cơn giận luôn có một nguyên nhân, nhưng rất hiếm khi đó là nguyên nhân chính đáng. (Anger is never without a reason, but seldom with a good one.)Benjamin Franklin

Cỏ làm hại ruộng vườn, sân làm hại người đời. Bố thí người ly sân, do vậy được quả lớn.Kinh Pháp Cú (Kệ số 357)
Yếu tố của thành công là cho dù đi từ thất bại này sang thất bại khác vẫn không đánh mất sự nhiệt tình. (Success consists of going from failure to failure without loss of enthusiasm.)Winston Churchill
Chúng ta không thể đạt được sự bình an nơi thế giới bên ngoài khi chưa có sự bình an với chính bản thân mình. (We can never obtain peace in the outer world until we make peace with ourselves.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Hãy sống như thế nào để thời gian trở thành một dòng suối mát cuộn tràn niềm vui và hạnh phúc đến với ta trong dòng chảy không ngừng của nó.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Niềm vui cao cả nhất là niềm vui của sự học hỏi. (The noblest pleasure is the joy of understanding.)Leonardo da Vinci
Càng giúp người khác thì mình càng có nhiều hơn; càng cho người khác thì mình càng được nhiều hơn.Lão tử (Đạo đức kinh)
Bạn sẽ không bao giờ hạnh phúc nếu cứ mãi đi tìm những yếu tố cấu thành hạnh phúc. (You will never be happy if you continue to search for what happiness consists of. )Albert Camus
Người ta trói buộc với vợ con, nhà cửa còn hơn cả sự giam cầm nơi lao ngục. Lao ngục còn có hạn kỳ được thả ra, vợ con chẳng thể có lấy một chốc lát xa lìa.Kinh Bốn mươi hai chương
Giữ tâm thanh tịnh, ý chí vững bền thì có thể hiểu thấu lẽ đạo, như lau chùi tấm gương sạch hết dơ bẩn, tự nhiên được sáng trong.Kinh Bốn mươi hai chương
Nếu muốn đi nhanh, hãy đi một mình. Nếu muốn đi xa, hãy đi cùng người khác. (If you want to go fast, go alone. If you want to go far, go together.)Ngạn ngữ Châu Phi

Trang chủ »» Danh mục »» Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: phạm ngữ »»

Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: phạm ngữ








KẾT QUẢ TRA TỪ


phạm ngữ:

(梵語) Sanskrit. Cũng gọi Thiên trúc ngữ. Văn tự tiêu chuẩn của Ấn độ cổ đại, thuộc ngữ hệ Ấn Âu. Các sách như: Phệ đà, Phạm thư, Sâm lâm thư, Áo nghĩa thư và kinh điển của Phật giáo Bắc truyền đều được viết bằng ngữ văn này. Sanskritbắt nguồn từ chữ Saôskfta (nghĩa là hoàn thành). Trung quốc và Nhật bản căn cứ vào truyền thuyết cho rằng ngôn ngữ này là do Phạm thiên sáng tạo ra, cho nên gọi là Phạm ngữ hoặc Thánh ngữ. Để phân biệt với tục ngữ thông dụng trong dân gian, Phạm ngữ được gọi là Nhã ngữ. Nói theo nghĩa rộng, Phạm ngữ được chia làm 2 loại là: Phệ đà Phạm ngữ (Vedic Sanskrit) và Cổ điển Phạm ngữ (Classical Sanskrit). Phệ đà Phạm ngữ là ngôn ngữ Thánh điển (Phệ đà) của Bà la môn giáo; còn Cổ điển Phạm ngữ là do nhà Văn pháp học Ba nhĩ ni (Phạm: Pàịini) qui định thêm về văn pháp mà tập đại thành. Cứ theo sự nghiên cứu của các học giả cận đại, thì vào khoảng 2.000 năm trước Tây lịch, dân tộc Aryan từ phía tây bắc xâm nhập Ấn độ, đuổi hết thổ dân địa phương mà chiếm lấy khu vực Ngũ hà (Phạm: Paĩjàb) để định cư. Ở đây, họ đã biên tập Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda) đầu tiên trong 4 Phệ đà. Sau đó không lâu, họ lại tiếp tục soạn thuật Phạm thư để giải thích những lời tế trong Phệ đà, rồi đến Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư để phát huy ý nghĩa thâm sâu của lời tế; cuối cùng là Bản kinh (Phạm:Sùtra) nói sơ lược về yếu nghĩa của Phạm thư. Ngôn ngữ được sử dụng trong các Thánh điển trên đây được gọi chung là Cổ đại Phạm ngữ (Ancient Sanskrit), Phệ đà Phạm ngữ, tức ngôn ngữ Thánh điển ở khoảng 1.500 năm đến 500 năm trước Tây lịch. Tương đối với ngôn ngữ Thánh điển này, ngôn ngữ được sử dụng trong 2 tác phẩm Sử thi lớn của Ấn độ là Mahàbhàrata và Ràmàyaịa thì thuộc loại Phạm ngữ cổ điển, nhưng vì có bao hàm rất nhiều ngôn ngữ thông tục, nên đặc biệt được gọi là Phạm ngữ Tự sự thi (Epic Sanskrit). Về các sách Văn pháp của Phạm thư thì từ xưa đã có Tự vựng (Phạm: Nighaịta), luận Ni lộc đa (Phạm: Nirukta), tức sách chú thích Tự vựng được soạn vào thế kỉ V Tây lịch. Về sau, Ba nhĩ ni căn cứ vào luận Ni lộc đa và tham khảo các sách Văn pháp khác, rồi dùng ngữ pháp của Bản kinh mà soạn thành luận Thanh minh kí, đây tức là luận Tì già la (Phạm:Vyàkaraịa), sau lại chú thích thêm Pataĩjali làm cho văn pháp của cổ Ấn độ được xác lập vững chắc. Do đó, Phạm ngữ Phệ đà đã diễn tiến theo thời đại, dần dần phát triển thành Phạm ngữ cổ điển với hình thức nhất định và cũng dần dần trút bỏ những dụng ngữ dung tục. Trong 18 loại Thánh điển Phú lan na (Phạm: Puràịa) thì Ái kinh (Phạm: Kàma-zàstra) và các Thánh điển Phật giáo như: Phật sở hành tán (Phạm: Buddhacarita), Đại sự (Phạm: Mahàvastu), Bản sinh man (Phạm: Jàtakamàlà) v.v... đều được viết bằngPhạm ngữ cổ điển. Và, để phân biệt với Phạm ngữ cổ, tiếng Phạm được sử dụng trong các kinh điển của Phật giáo đặc biệt được gọi là Phạm ngữ Phật giáo (Buddhist-Sanskrit). Lại nữa, vì Phạm ngữ được sử dụng trong kinh Phật giáo đã lẫn lộn với rất nhiều tục ngữ, không còn là Phạm ngữ thuần túy, tạo nên 1 hình thái hết sức phức tạp, cho nên cũng gọi là Phạm ngữ Phật giáo hỗn tạp (Buddhist Hybrid Sanskrit). Vào khoảng thế kỉ VIII Tây lịch, người Ấn độ tiến xưống miền Nam, mang theo Phạm ngữ với họ đến tận các nước vùng Đông Nam Á, kết quả, đối với văn học Đạt la tì đồ (Phạm:Dràviđa) ở Nam Ấn độ và văn học các nước vùng Đông Nam Á, Phạm ngữ đều đã có ảnh hưởng rất lớn. Vào khoảng thế kỉ X, do sự phát đạt của các loại ngôn ngữ địa phương tại Ấn độ cận đại, cùng với sự xâm lăng của tín đồ Hồi giáo, Phạm ngữ đã dần dần mất thế đứng và cuối cùng chỉ còn tồn tại trong địa vị của 1 ngôn ngữ cổ điển mà thôi. Tóm lại, Phạm ngữ là thứ ngôn ngữ có hệ thống Văn pháp rất phức tạp; trong giới trí thức Ấn độ hiện đại, Phạm ngữ phần nhiều vẫn còn được dùng để viết sách. Về phần chữ cái (Phạm: Akwara) của Phạm ngữ thì có 47 âm, nếu thêm vào 3 âm là: Aô,a# và kwa, thì thành 50 âm. Các danh từ, đại danh từ và hình dung từ được chia làm 3 môn là: Tính, Số và Cách. Trong đó, về Tính thì có nam tính, nữ tính và trung tính; Số thì có số đơn, số đôi và số kép; Cách thì có thể cách, nghiệp cách, cụ cách, vi cách, tòng cách, thuộc cách, y cách và hô cách. Mỗi 1 chữ Phạm tùy theo Tính, Số, Cách khác nhau mà vĩ ngữ phải được thay đổi. Động từ thì có Chủ động và Bị động; Thời thì có quá khứ, hiện tại, vị lai, cũng đều có biến đổi vĩ ngữ... Ở Trung quốc có khá nhiều sách vở để nghiên cứu Phạm ngữ như: Phiên Phạm ngữ, 10 quyển (Bảo xướng), Nhất thiết kinh âm nghĩa (Huyền ứng, Tuệ lâm, Hi lân), Hoa nghiêm kinh âm nghĩa (Tuệ uyển), Tất đàm tự kí (Trí quảng), Phạm ngữ thiên tự văn (Nghĩa tịnh), Phiên dịch danh nghĩa tập (Pháp vân)... [X. phẩm Chấp mị giả nghi tắc trong kinh Đại phương quảng bồ tát Văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ Q.18; luận Đại tì bà sa Q.79, 172; A History of Ancient Sanskrit Literature by Max Müller; Buddhist India by Rhys Davids]. (xt. Phật Giáo Phạm Ngữ).


Nếu muốn duyệt qua từng vần trong từ điển,
xin nhập vào ô dưới đây vần tương ứng. Ví dụ: A, B, C...

Nhập vần muốn tra:
Để giới hạn kết quả tìm kiếm chính xác hơn, quý vị có thể nhập 2 hoặc 3 chữ cái đầu vần. Ví dụ, để tìm những chữ như thiền, thiện... quý vị nên nhập thi thay vì t... sẽ cho một kết quả gần với yêu cầu của quý vị hơn.

Quý vị đang truy cập từ IP 54.156.78.4 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn TRUNG HÒA Rộng Mở Tâm Hồn tuyệt chất Rộng Mở Tâm Hồn Thành ÓM A HÙM Rộng Mở Tâm Hồn Viễn Tương Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Trí 1975 Rộng Mở Tâm Hồn Tên Rộng Mở Tâm Hồn đức toàn Rộng Mở Tâm Hồn hanhnguyen Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Quốc Thắng Rộng Mở Tâm Hồn Vô Trí Sĩ Rộng Mở Tâm Hồn Thu Chu Rộng Mở Tâm Hồn Thien Hue Rộng Mở Tâm Hồn Bre Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Đức Phiên Rộng Mở Tâm Hồn Minh Hạnh Như Dung Rộng Mở Tâm Hồn Phan Huy Triều Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Van Loi Rộng Mở Tâm Hồn gsruan Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Khắc Bảo Rộng Mở Tâm Hồn do mong hung Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Cát Rộng Mở Tâm Hồn Thích Quảng Ba Rộng Mở Tâm Hồn Anh Duong Rộng Mở Tâm Hồn Tu Nguyen Rộng Mở Tâm Hồn Tri Huynh Rộng Mở Tâm Hồn Bình Hà Rộng Mở Tâm Hồn Dieu kien Rộng Mở Tâm Hồn Hữu Bình Rộng Mở Tâm Hồn Mied Rộng Mở Tâm Hồn Butterfly90 Rộng Mở Tâm Hồn Vạn Phúc Rộng Mở Tâm Hồn le van sang Rộng Mở Tâm Hồn Bảo Việt Rộng Mở Tâm Hồn Anhdang81 Rộng Mở Tâm Hồn Ad Rộng Mở Tâm Hồn Muoi dat Rộng Mở Tâm Hồn Beajimin Jp Rộng Mở Tâm Hồn Nhuận Hoà Minh Rộng Mở Tâm Hồn chuakimquy Rộng Mở Tâm Hồn phuonghoanghamthu ... ...

Việt Nam (1,509.027 lượt xem) - Hoa Kỳ (10.509 lượt xem) - Đức quốc (339 lượt xem) - Pháp quốc (64 lượt xem) - Trung Hoa (48 lượt xem) - Australia (44 lượt xem) - Romania (39 lượt xem) - Anh quốc (28 lượt xem) - New Zealand (Aotearoa) (27 lượt xem) - Central African Republic (26 lượt xem) - Nga (17 lượt xem) - Nhật Bản (13 lượt xem) - Cộng hòa Czech (7 lượt xem) - Đài Loan (3 lượt xem) - French Southern Territories (2 lượt xem) - Hong Kong (2 lượt xem) - Hà Lan (1 lượt xem) - Hungary (1 lượt xem) - ... ...