Chiến thắng hàng ngàn quân địch cũng không bằng tự thắng được mình. Kinh Pháp cú

Những người hay khuyên dạy, ngăn người khác làm ác, được người hiền kính yêu, bị kẻ ác không thích.Kinh Pháp cú (Kệ số 77)
Tôi chưa bao giờ học hỏi được gì từ một người luôn đồng ý với tôi. (I never learned from a man who agreed with me. )Dudley Field Malone
Cỏ làm hại ruộng vườn, sân làm hại người đời. Bố thí người ly sân, do vậy được quả lớn.Kinh Pháp Cú (Kệ số 357)
Nhiệm vụ của con người chúng ta là phải tự giải thoát chính mình bằng cách mở rộng tình thương đến với muôn loài cũng như toàn bộ thiên nhiên tươi đẹp. (Our task must be to free ourselves by widening our circle of compassion to embrace all living creatures and the whole of nature and its beauty.)Albert Einstein
Tìm lỗi của người khác rất dễ, tự thấy lỗi của mình rất khó. Kinh Pháp cú
Kẻ ngu dầu trọn đời được thân cận bậc hiền trí cũng không hiểu lý pháp, như muỗng với vị canh.Kinh Pháp Cú - Kệ số 64
Nếu chúng ta luôn giúp đỡ lẫn nhau, sẽ không ai còn cần đến vận may. (If we always helped one another, no one would need luck.)Sophocles
Người thực hành ít ham muốn thì lòng được thản nhiên, không phải lo sợ chi cả, cho dù gặp việc thế nào cũng tự thấy đầy đủ.Kinh Lời dạy cuối cùng
Chấm dứt sự giết hại chúng sinh chính là chấm dứt chuỗi khổ đau trong tương lai cho chính mình.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Nếu muốn người khác được hạnh phúc, hãy thực tập từ bi. Nếu muốn chính mình được hạnh phúc, hãy thực tập từ bi.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV

Trang chủ »» Danh mục »» Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: kệ »»

Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: kệ








KẾT QUẢ TRA TỪ


kệ:

(偈) Thể văn vần được dùng trong kinh điển Phật giáo. Có 2 loại là Già đà (Phạm:Gàthà) và Kì da (Phạm:Geya). Hai loại này đều là Kệ tụng, nhưng ý nghĩa của chúng thì khác nhau. Già đà: Cũng gọi Cô khởi kệ, tức là phần văn vần trực tiếp chuyên chở ý nghĩa của giáo pháp, trước nó không có văn xuôi (Trường hàng), mà nếu có thì ý nghĩa cũng không liên quan gì đến phần văn vần này. Kì dạ: Cũng gọi Trùng tụng kệ, tức là phần văn vần lập lại ý nghĩa đã được trình bày trong đoạn văn xuôi ở trước. Trên đây là nói theo nghĩa rộng, nhưng trong các kinh luận cũng có những trường hợp dùng lẫn lộn 2 loại kệ tụng này. Còn nói theo nghĩa hẹp, thì Kệ là chỉ riêng cho tiếng PhạmGàthà, dịch âm là già đà, già tha, kệ đà, kệ tha; dịch ý là phúng tụng, kệ tụng, tạo tụng, cô khởi tụng, bất trùng tụng kệ, tụng, ca dao. Là 1 trong 9 thể tài, 1 trong 12 thể tài kinh điển. Ngữ cú của thể văn này gọi là Kệ ngữ. Kệ có rất nhiều loại, loại thường được dùng nhất trong kinh Phật gồm 2 hàng, 16 âm tiết(2 câu, mỗi câu 8 âm tiết), gọi là Thủ lô ca (Phạm:Zloka) hoặc gọi là Thông kệ. Một loại kệ khác thì có 2 hàng từ 22 đến 24 âm tiết(2 câu, mỗi câu 11 đến 12 âm tiết), gọi làTriwỉubh(một loại âm luật). Ngoài ra, còn có loại kệ không hạn định số âm tiết, gọi làÀryà(một loại âm luật). Dưới đây là thí dụ loại kệ Thủ lô ca, 1 hàng: Anityà bata sàmskàrà, ùtpàdàvyaya-dhàrmiịa (kí hiệuV là âm tiết ngắn, kí hiệu– là âm tiết dài). Bài kệ trên đây được dịch ra tiếng Hán có loại 4 chữ, có loại 5 chữ, mỗi loại đều có 2 câu, 2 hàng; nhìn trên hình thức thì giống như bài thơ chữ Hán, nhưng không có vận luật. Trong bài kệ dài, không hẳn là một bài kệ 2 hàng, mà thường có 1 đến 4 hàng; số âm tiết của bài kệ tiếng Phạm không quan hệ trực tiếp với số chữ trong câu kệ sau khi được dịch sang Hán văn. Ngoài ra, loại kệ Thủ lô ca thường không hạn chế sự dài ngắn của âm tiết. Còn có 1 loại kệ nữa đem chia các đoạn văn xuôi thành từng nhóm 32 âm tiết để chỉ rõ độ dài của bài văn. Chẳng hạn như 400 quyển đầu của kinh Đại bát nhã bản Hán dịch tương đương với 400 quyển của bản tiếng Phạm, gọi làThập vạn tụng Bát nhã. Trong kinh điển Hán dịch, có nhiều chỗ đề cập đến kệ tụng, nhưng đều nói khác nhau. Luận Thuận chính lí quyển 44 bảo rằng kệ có 2, 3, 4, 5, 6 câu. Luận Đại trí độ quyển 33 thì nói tất cả các loại kệ đều gọi là Kì dạ, cũng gọi là già đà, có 3, 5, 6 câu, v.v... Luận Thành thực quyển 1 cho rằng Kì dạ (kệ) có 2 loại già đà và lộ già, lộ già lại được chia làm 2 thứ là thuận phiền não và bất thuận phiền não. Già đà trong 12 thể tài kinh là thuộc về loại bất thuận phiền não. Bách luận sớ quyển thượng thì cho rằng Kệ có 2 loại, một là thông kệ, tức Thủ lô ca, gồm 32 âm tiết tiếng Phạm; hai là biệt kệ, gồm 4 câu, mỗi câu 4, 5, 6, 7 chữ. Ngoài ra, thơ và văn trong Phật giáo được gọi là Kệ biệt; Kệ là thơ, biệt là văn. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.6; luận Đại tì bà sa Q.126; Huyền ứng âm nghĩa Q.24; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2 phần đầu]. (xt. Thập Nhị Bộ Kinh, Cô Khởi Kệ, Kì Dạ).


Nếu muốn duyệt qua từng vần trong từ điển,
xin nhập vào ô dưới đây vần tương ứng. Ví dụ: A, B, C...

Nhập vần muốn tra:
Để giới hạn kết quả tìm kiếm chính xác hơn, quý vị có thể nhập 2 hoặc 3 chữ cái đầu vần. Ví dụ, để tìm những chữ như thiền, thiện... quý vị nên nhập thi thay vì t... sẽ cho một kết quả gần với yêu cầu của quý vị hơn.

Quý vị đang truy cập từ IP 54.144.50.90 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn hatran Rộng Mở Tâm Hồn phattran Rộng Mở Tâm Hồn Thích Đạo Nguyện Rộng Mở Tâm Hồn Huynhvietbang Rộng Mở Tâm Hồn tanbui Rộng Mở Tâm Hồn Bíchcâu Rộng Mở Tâm Hồn Thanh Duc Rộng Mở Tâm Hồn Phan Huy Triều Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Quốc Thắng Rộng Mở Tâm Hồn Kim Thoa Rộng Mở Tâm Hồn Lữ Du Rộng Mở Tâm Hồn tungnguyen Rộng Mở Tâm Hồn Sương Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Cát Rộng Mở Tâm Hồn kimoanh Rộng Mở Tâm Hồn THONG PHUOC Rộng Mở Tâm Hồn Mai Long Bs Rộng Mở Tâm Hồn The Hung Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Hương Trang Rộng Mở Tâm Hồn Beajimin Jp Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Đông Rộng Mở Tâm Hồn Cừ hương Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Văn Tài Rộng Mở Tâm Hồn Khiết Long Rộng Mở Tâm Hồn dtran Rộng Mở Tâm Hồn Tuyet Suong Rộng Mở Tâm Hồn MkBin Rộng Mở Tâm Hồn Mai Hồng Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Sơn Rộng Mở Tâm Hồn nvnghia Rộng Mở Tâm Hồn The end Rộng Mở Tâm Hồn thuonghylenien Rộng Mở Tâm Hồn Nhuận Hoà Minh Rộng Mở Tâm Hồn Tinh Tam temple Rộng Mở Tâm Hồn Đạo Duy Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Chơn Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Lộc 1959 Rộng Mở Tâm Hồn hanhnguyen Rộng Mở Tâm Hồn Thông Tuệ Rộng Mở Tâm Hồn Vĩnh Tiến ... ...

Việt Nam (759.999 lượt xem) - Hoa Kỳ (10.394 lượt xem) - Đức quốc (1.215 lượt xem) - Pháp quốc (259 lượt xem) - New Zealand (Aotearoa) (47 lượt xem) - Australia (23 lượt xem) - Anh quốc (19 lượt xem) - Nga (16 lượt xem) - Trung Hoa (13 lượt xem) - Ấn Độ (6 lượt xem) - Nhật Bản (5 lượt xem) - Central African Republic (4 lượt xem) - Benin (3 lượt xem) - Thái Lan (2 lượt xem) - Hungary (1 lượt xem) - South Africa (1 lượt xem) - Đài Loan (1 lượt xem) - Hong Kong (1 lượt xem) - Na-uy (1 lượt xem) - ... ...