Để có thể hành động tích cực, chúng ta cần phát triển một quan điểm tích cực. (In order to carry a positive action we must develop here a positive vision.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV

Lửa nào bằng lửa tham! Chấp nào bằng sân hận! Lưới nào bằng lưới si! Sông nào bằng sông ái!Kinh Pháp cú (Kệ số 251)
Kẻ thất bại chỉ sống trong quá khứ. Người chiến thắng là người học hỏi được từ quá khứ, vui thích với công việc trong hiện tại hướng đến tương lai. (Losers live in the past. Winners learn from the past and enjoy working in the present toward the future. )Denis Waitley
Thành công không được quyết định bởi sự thông minh tài giỏi, mà chính là ở khả năng vượt qua chướng ngại.Sưu tầm
Hạnh phúc đích thực không quá đắt, nhưng chúng ta phải trả giá quá nhiều cho những thứ ta lầm tưởng là hạnh phúc. (Real happiness is cheap enough, yet how dearly we pay for its counterfeit.)Hosea Ballou
Người ta có hai cách để học hỏi. Một là đọc sách và hai là gần gũi với những người khôn ngoan hơn mình. (A man only learns in two ways, one by reading, and the other by association with smarter people.)Will Rogers
Nhẫn nhục có nhiều sức mạnh vì chẳng mang lòng hung dữ, lại thêm được an lành, khỏe mạnh.Kinh Bốn mươi hai chương
Không có sự việc nào tự thân nó được xem là tốt hay xấu, nhưng chính tâm ý ta quyết định điều đó. (There is nothing either good or bad but thinking makes it so.)William Shakespeare
Thành công có nghĩa là đóng góp nhiều hơn cho cuộc đời so với những gì cuộc đời mang đến cho bạn. (To do more for the world than the world does for you, that is success. )Henry Ford
Hạnh phúc giống như một nụ hôn. Bạn phải chia sẻ với một ai đó mới có thể tận hưởng được nó. (Happiness is like a kiss. You must share it to enjoy it.)Bernard Meltzer
Hào phóng đúng nghĩa với tương lai chính là cống hiến tất cả cho hiện tại. (Real generosity toward the future lies in giving all to the present.)Albert Camus

Trang chủ »» Danh mục »» Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: định »»

Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: định








KẾT QUẢ TRA TỪ


định:

(定) Tâm chuyên chú vào một đối tượng mà đạt đến tác dụng tinh thần không tán loạn, hoặc chỉ cho trạng thái tâm vắng lặng. Trái lại, trạng thái tâm tán loạn do không tập trung thì gọi là Tán, hợp chung lại gọi là Định tán. Định vốn là dịch ý của chữ Phạm samàdhi(tam ma địa, tam muội), tông Câu xá và tông Duy thức cho là một trong những tâm sở; tông Câu xá lập Định làm một trong 10 Đại địa pháp, còn tông Duy thức thì lập nó làm một trong 5 Biệt cảnh. Sự tu hành khiến cho tâm không tán loạn, nhờ đó mà có được trạng thái tinh thần tĩnh lặng thì gọi chung là Định. Lại do Chỉ và Quán quân bình hay không quân bình, hữu tâm hoặc vô tâm khác nhau mà sinh ra định Tứ thiền, Tứ vô sắc, Nhị vô tâm v.v... hoặc gọi chung là Thiền định. Hoặc theo nghĩa tâm một cảnh tính mà gọi là Tam ma địa hoặc Tam muội. Định cũng là một trong ba học, một trong tám Thánh đạo, một trong năm căn, một trong năm lực, cho nên cũng gọi là Định căn, Định lực; một trong sáu độ, tức là Thiền định (Phạm: dhyàna, Thiền na, Tĩnh lự). Về ý nghĩa của Định có nhiều thuyết khác nhau: Cứ theo luận Đại trí độ quyển 28, thì Thiền định và Tứ thiền cả hai đều gọi là Định, Tam muội. Cứ theo luận Thập trụ tì bà sa quyển 11, thì Thiền chỉ cho Tứ thiền, Định chỉ cho Tứ vô sắc định, Tứ vô lượng tâm. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 5 phần đầu thì nêu ra 7 tên khác nhau của Định: 1. Tam ma hi đa (Phạm: Samàhita, Hán dịch là Đẵng dẫn). Đẳng là trạng thái quân bình, tâm thần an ổn, xa lìa trạo cử và hôn trầm; Dẫn nghĩa là do tự lực tu tập định này mà xa lìa phiền não và phát sinh công đức thắng diệu. Đẳng dẫn chung cho cả định hữu tâm và định vô tâm, nhưng không chung cho tán vị (trạng thái tán loạn). 2. Tam ma địa, Tam muội (Phạm: Samàdhi, Hán dịch: Đẳng trì). Cũng gọi Chính tâm hành xứ. Tu tập định này thì tâm an trụ ở một cảnh không dao động, tức là tâm bình đẳng nhiếp trì. Đẳng trì chung cho cả định và tán, nhưng chỉ hạn ở vị hữu tâm, chứ không chung cho định vô tâm. Đây là bản thể của định. 3. Tam ma bát để (Phạm: Samàpatti, Hán dịch: Đẳng chí). Nghĩa là tu được định này thì chính thụ hiện tiền, phát ra ánh sáng, an vui thù thắng, ở trong nhiễm ô mà không bị nhiễm ô, không còn trở lui, đạt đến cảnh thân tâm bình đẳng. Đẳng chí chỉ chung cho định hữu tâm và định vô tâm, chứ không chung cho tán vị. Đây là tự tướng của định. 4. Đà na diễn na (Phạm: Dhyàna, Hán dịch: Tĩnh lự, dịch âm: Thiền na, gọi tắt: Thiền). Nghĩa là dứt hết vọng niệm phân biệt, lắng tâm quán tưởng, đạt đến trạng thái tịch lặng. Tĩnh lự chung cho cả định hữu tâm, định vô tâm, hữu lậu, vô lậu, nhưng chỉ có ở định cõi Sắc, chứ không có ở định Vô sắc. 5. Chất đa ế ca a yết la đa (Phạm: Cittaikàgratà, Hán dịch: Tâm nhất cảnh tính). Thu nhiếp tâm vào một cảnh, siêng năng gắng sức tu tập, nghĩa là tập trung tâm ý vào một đối tượng. Đây là tự tính của định. 6. Xa ma tha (Phạm: Zamatha, Hán dịch: Chỉ, Chính thụ). Ngăn dứt những pháp bất thiện của các căn, diệt tất cả phiền não tán loạn, loại trừ những tưởng niệm tà bậy. Nghĩa là lắng tâm tĩnh lặng. Xa ma tha chỉ có ở định hữu tâm. 7. Hiện pháp lạc trụ (Phạm: Dfwỉadharma-sukha-vihàra). Tu tập thiền định, dứt tất cả vọng tưởng, thân tâm vắng lặng, hiện được pháp hỉ, yên vui chẳng động, tức là ở ngay đời này nhờ tu tập các định thanh tịnh, định vô lậu v.v... mà được hưởng thụ pháp lạc của định. Hiện pháp lạc trụ chỉ có ở bốn định căn bản của cõi Sắc. Định có hai loại: Sinh đắc định và Tu đắc định. 1. Sinh đắc định: Nhờ sức thiện nghiệp ở đời trước được sinh vào cõi Sắc và cõi Vô sắc mà tự nhiên được định (vì hai cõi này đều là cõi định). 2. Tu đắc định: Sinh vào cõi Dục (cõi tán), nhờ nỗ lực tu hành mà được định. Hai định trên đây ở trong định cõi Sắc thì gọi là Sinh tĩnh lự, Định tĩnh lự, ở trong cõi Vô sắc thì gọi là Sinh vô sắc, Định vô sắc. Căn cứ theo nội dung của định và giai đoạn tu hành, có thể chia định làm nhiều loại. Tông Câu xá chia ra hai loại là Hữu tâm định và Vô tâm định. I. Hữu tâm định. Bao gồm 4 tĩnh lự (Tứ thiền, Tứ sắc giới định) và 4 định Vô sắc, cộng chung là 8 định (Bát đẳng chí). A. Bốn tĩnh lự: - Sơ tĩnh lự, dứt hết nói năng. - Đệ nhị và đệ tam tĩnh lự diệt tầm (tìm kiếm), tứ (dò xét). - Đệ tứ tĩnh lự lần lượt xa lìa các cảm thụ lo, khổ, mừng, vui... Thêm nữa, Sơ tĩnh lự, thức mũi và thức lưỡi không còn tác dụng. Từ đệ nhị tĩnh lự trở lên thì cả 5 thức đều không hoạt động. B. Bốn định Vô sắc: 1. Không vô biên xứ định: Diệt trừ sắc tưởng (gồm các sắc thấy được và không thấy được - Vô biểu sắc) mà vào tưởng hư không vô biên. 2. Thức vô biên xứ định: Bỏ duyên theo không bên ngoài, chỉ duyên theo thức bên trong mà vào hành thức vô biên. 3. Vô sở hữu xứ định: Lìa bỏ thức xứ, diệt trừ thức tưởng, đi vào hành tướng vô sở hữu. 4. Phi tưởng phi phi tưởng xứ định, cũng gọi phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ định: Lìa bỏ hành tướng vô sở hữu, tiến tới xa lìa hành tướng phi tưởng để đạt đến Phi phi tưởng định. C. Tám định: Có 2 giai đoạn: a) Giai đoạn đã vào định, gọi là Căn bản định, hoặc Căn bản. b) Giai đoạn chuẩn bị gần định, gọi là Cận phần định. Nhưng, giai đoạn trước Sơ tĩnh lự không gọi là Cận phần định mà gọi là Vị chí định, vì thế chỉ có 7 Cận phần định. Lại giai đoạn giữa Sơ tĩnh lự và Cận phần định của Đệ nhị tĩnh lự gọi là Trung gian định, hoặc Trung gian tĩnh lự, nếu tu tập định này thì được sinh lên cõi trời Đại phạm. Trong Tĩnh lự thứ 4, từ phẩm hạ hạ đến phẩm thượng thượng gồm có 9, phẩm thượng thượng là định cao nhất trong các định của cõi Sắc, gọi là định Biên tế. Các định: Vị chí, Trung gian, 7 cận phần, 8 căn bản nói ở trên, nếu xét về phương diện có tầm, tứ hay không, thì lại được chia làm 3 thứ định (tam ma địa). Đó là: 1. Định Vị chí và Sơ tĩnh lự có tầm có tứ, là định có giác có quán. 2. Định trung gian không có tầm chỉ có tứ, là định không giác có quán. 3. Định cận phần của Tĩnh lự thứ 2 trở lên không tầm không từ, tức là định không giác không quán. Ba loại định trên gọi là Tam tam ma địa, Tam muội. Tính chất của định được chia làm 3: Vị định, Tịnh định và Vô lậu định, cũng gọi Tam đẳng chí. 1. Vị định (Vị đẳng chí): Tương ứng với tham ái mà sinh khởi, là định ưa thích đắm nhiễm Tịnh định ở niệm trước thuộc trong 8 định căn bản và định trung gian. 2. Tịnh định(Tịnh đẳng chí): Tương ứng với tâm thiện hữu lậu mà sinh khởi. Lại được chia làm 4: a) Thuận thoái phần định: Thuận theo phiền não của cõi mình mà sinh khởi vị định. b. Thuận trụ phần định: Thuận theo tịnh định của cõi mình. c) Thuận thắng tiến phần định: Thuận theo tịnh định của cõi trên. d) Thuận quyết trạch phần định: Thuận theo trí vô lậu mà sinh khởi định vô lậu. 3. Vô lậu định (Vô lậu đẳng chí): Chỗ nương tựa của bậc Thánh, là định đạt được trí vô lậu, bao quát cả định Vị chí, định Trung gian, 4 định Căn bản (Tĩnh lự), 3 định Vô sắc (trừ Hữu đính). Định này có tác dụng đoạn trừ phiền não rất mạnh. Thông thường, định Hữu tâm được chia làm 2 phẩm là Chỉ và Quán. Do đó lại chia ra đồng đều và không đồng đều. Trong định Vị chí và định Trung gian, tác dụng quán mạnh hơn, tức là phẩm Quán tăng, phẩm Chỉ giảm; trong 4 định Vô sắc thì tác dụng chỉ mạnh hơn, tức là phẩm Quán giảm, phẩm Chỉ tăng; duy có 4 định căn bản ở cõi Sắc là Chỉ và Quán đồng đều, hòa hợp cùng chuyển, cho nên gọi là Tĩnh lự. Còn 4 định Vô sắc thì Chỉ và Quán không tu song song, nên gọi chung là Duy định (chỉ có định). II. Vô tâm định. Định này được chia làm 2 loại là Vô tưởng định và Diệt tận định, đều là định diệt trừ tâm và tâm sở. - Vô tưởng định: Phàm phu và ngoại đạo tu tập định này vì nhận lầm trạng thái vô tưởng là Niết bàn chân thực. - Diệt tận định: Bậc Thánh tu tập định này, lấy cảnh giới định làm cảnh giới Vô dư Niết bàn. Ngoại trừ Vô tưởng định, còn Tứ thiền, Tứ vô sắc và Diệt tận không được xen tạp niệm khác, phải theo thứ tự tu hành mà được, nên cũng gọi Cửu thứ đệ định (chín định theo thứ lớp), Vô gián thiền (thiền không xen tạp). Nhưng, bậc A la hán Bất thời giải thoát được sức tự tại đối với Thiền định, khi tu 8 định (4 thiền, 4 Vô sắc) có thể vượt bậc mà không cần theo thứ tự, thì gọi là Siêu định, hoặc Siêu đẳng chí, Siêu tam muội. Cứ theo luận Câu xá quyển 18 nói, thì tướng tu của 8 định được chia làm 2 loại là Hữu lậu và Vô lậu. Theo luận Du già sư địa quyển 31, thì có 9 thứ gia hạnh để vào định: 1. Tương ứng gia hạnh: Người tham dục siêng tu Bất tịnh quán, người hay sân thì siêng tu Từ bi quán, người ngu si siêng tu Duyên khởi quán, người kiêu mạn siêng tu Giới sai biệt quán, người hay có ý dò xét so đo thì siêng tu Sổ tức quán. 2. Quán tập gia hạnh: Siêng tu tập Chỉ và Quán. 3. Bất hoãn gia hạnh: Thường ưa xa lìa, tập hạnh siêng năng, không dám lần lữa, chậm rãi. 4. Vô đảo gia hạnh: Theo pháp và nghĩa chứ không chấp trước ý riêng của mình. 5. Ứng thời gia hạnh: Biết rõ tướng của Chỉ, Quán, Cử, Xả và lúc tu. 6. Giải liễu gia hạnh: Sau khi biết rõ tướng của Chỉ, Quán, Cử, Xả thì chứng được Nhập (vào), Trụ (an trú), Xả (buông bỏ) của định một cách tự tại. 7. Vô yếm túc gia hạnh: Ở trong định thấp không trở lui mà tiến lên để cầu pháp cao hơn. 8. Bất xả ách gia hạnh: Thường điều phục tâm ý, không để tán loạn, rong ruổi. 9. Chính gia hạnh: Đối với cảnh duyên theo luôn luôn phát khởi sự hiểu biết thù thắng. Nhờ tu tập 9 gia hạnh trên đây mà tâm mau định. Nếu lần lượt tu tập 7 loại tác ý như: Liễu tướng tác ý, Thắng giải tác ý, Gia hạnh cứu kính quả tác ý v.v... thì được chứng nhập cảnh giới Sơ tĩnh lự. Người tu định phải xa lìa 4 chướng: 1. Khiếp nhược chướng: Sự tu định bị trở ngại vì không có tâm mong cầu xuất li. 2. Phú cái chướng: Tâm bị dục tham, sân khuể, hôn miên, trạo hối và si che lấp, ngăn ngại việc tu định. 3. Tầm tứ chướng: Bị sự nhiễm ô trong tâm tưởng gây chướng ngại. 4. Tự cử chướng: Tự đề cao chỗ thấy biết thấp kém làm trở ngại. Ngoài ra, nghĩa chính thống của Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng Dục giới là cõi tán loạn, không phải là nơi tu định, lìa dục, chỉ có Sắc giới và Vô sắc giới mới là các cõi định. Còn Dị sư và Đại chúng bộ thì chủ trương Dục giới cũng có định. Đối với chủng loại của định, trong Đại thừa còn có nhiều thuyết. Chẳng hạn như Du già quán hạnh của tông Duy thức và Mật tông, 4 loại Tam muội của tông Thiên thai, Tọa thiền của Thiền tông v.v... đều là những phương pháp tu định thực tiễn để đạt đến quả Phật. Theo tông Duy thức thì 4 vị thiện căn (4 gia hạnh) là Noãn vị, Đính vị, Nhẫn vị, Thế đệ nhất pháp vị nhờ quán xét chủ quan và khách quan đều là không mà được 4 định: Minh đắc định, Minh tăng định, Ấn thuận định và Vô gián định. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 11, về cảnh giới sở y (chỗ nương tựa) của 4 thiện căn, giữa các luận sư cũng có những ý kiến khác nhau. Như tôn giả Đạt ma đa la cho cõi Dục hoàn toàn không có định, cho nên 4 thiện căn chỉ thuộc cõi Sắc; tôn giả Cù sa thì chủ trương cõi Dục có 6 thiền định, nên nhờ tu theo 6 thiền định mà sinh khởi 4 thiện căn; Ma ha tăng kỳ bộ (Đại chúng bộ) cũng cho cõi Dục có thiền định, nên 4 thiện căn thuộc cõi Dục. Cứ theo Nhiếp đại thừa luận thích quyển 11 (dịch vào đời Lương) thì luận Thanh tịnh đạo Tiểu thừa lập 67 thứ định, Đại thừa lập 500 định thu tóm vào 4 định là: Đại thừa quang định, Tập phúc đức định, Hiền hộ định và Thủ lăng nghiêm định, theo đó mà tu tập 10 Ba la mật thì có thể khiến cho chúng sinh thuần thục, cõi Phật được thanh tịnh. Còn theo kinh Quán vô lượng thọ, thì sự tu hành cầu vãng sinh Tịnh độ cực lạc phương tây có Định thiện và Tán thiện. Ngài Thiện đạo thuộc tông Tịnh độ đời Đường, cho rằng định thiện là thiện được làm trong lúc tâm định, cũng tức là dứt hết các ý niệm tạp nhạp, lăng xăng; còn tán thiện là thiện được làm trong lúc tâm tán cũng tức là bỏ ác tu thiện. Hai thứ thiện trên đây hợp chung lại gọi là Định tán nhị thiện. Hành giả tu theo pháp môn này được chia làm Định cơ và Tán cơ. Ngoài ra, kinh Đại phẩm bát nhã quyển 3 phẩm Tướng hạnh, quyển 5 phẩm Vấn thừa, quyển 27 phẩm Thường đề, kinh Hoa nghiêm các quyển 25, 27, 34, 38, 45, 49, 50 (bản dịch cũ), kinh Đồn chân đà la sở vấn Như lai tam muội quyển thượng và kinh Đại phương đẳng vô tưởng quyển 2 v.v... đều có nêu tên nhiều loại định khác nhau. [X. kinh Tạp a hàm Q.28; kinh Pháp lạc tỉ khưu ni trong Trung a hàm Q.58; luận Lục môn giáo thụ tập lục; luận Đại trí độ Q.17; luận Thành duy thức Q.5; luận Câu xá Q.5; Ma ha chỉ quán Q.9; luận Giải thoát đạo Q.4; luận Hiển dương thánh giáo Q.2; luận Thuận chính lí Q.27; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4].


Nếu muốn duyệt qua từng vần trong từ điển,
xin nhập vào ô dưới đây vần tương ứng. Ví dụ: A, B, C...

Nhập vần muốn tra:
Để giới hạn kết quả tìm kiếm chính xác hơn, quý vị có thể nhập 2 hoặc 3 chữ cái đầu vần. Ví dụ, để tìm những chữ như thiền, thiện... quý vị nên nhập thi thay vì t... sẽ cho một kết quả gần với yêu cầu của quý vị hơn.

Quý vị đang truy cập từ IP 54.211.127.89 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Rộng Mở Tâm Hồn Sonny View Rộng Mở Tâm Hồn Trâm Rộng Mở Tâm Hồn Minh Thái Hồng Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Thanh Hồng Rộng Mở Tâm Hồn MinhNam Rộng Mở Tâm Hồn Nguyệt Tâm Rộng Mở Tâm Hồn Ngo Trung Son Rộng Mở Tâm Hồn Jenny Nguyen Rộng Mở Tâm Hồn Lac Dieu Chan Rộng Mở Tâm Hồn Hữu Bình Rộng Mở Tâm Hồn TieuDieuLang Rộng Mở Tâm Hồn Nangbuakhua Rộng Mở Tâm Hồn Viet Phap Thanh Rộng Mở Tâm Hồn Nhài Nguyễn Rộng Mở Tâm Hồn Pham Manh Hung Rộng Mở Tâm Hồn Liên Phật Hội Rộng Mở Tâm Hồn HaMinh Rộng Mở Tâm Hồn Quynhvantri Rộng Mở Tâm Hồn THÍCH HOẰNG PHƯỚC Rộng Mở Tâm Hồn 小爱不可爱 Rộng Mở Tâm Hồn Gia Khiêm Rộng Mở Tâm Hồn Vũ Thị Đảm Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Văn Tài Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Lộc 1959 Rộng Mở Tâm Hồn Vạn Phúc Rộng Mở Tâm Hồn TrungHiếu Rộng Mở Tâm Hồn Bùi Anh Tú Rộng Mở Tâm Hồn Pascal Bui Rộng Mở Tâm Hồn Phúc Rộng Mở Tâm Hồn minhtri9a1cva Rộng Mở Tâm Hồn Dinh Quang Tru Rộng Mở Tâm Hồn huyhq Rộng Mở Tâm Hồn Thiên Xích Rộng Mở Tâm Hồn Quoc Phan Rộng Mở Tâm Hồn thuymy378 Rộng Mở Tâm Hồn Quảng Khang Rộng Mở Tâm Hồn nhutuan Rộng Mở Tâm Hồn Namphuong Rộng Mở Tâm Hồn Thích Nữ Huệ Ngọc ... ...

Việt Nam (13.092 lượt xem) - Hoa Kỳ (9.449 lượt xem) - Pháp quốc (522 lượt xem) - Nga (313 lượt xem) - Anh quốc (286 lượt xem) - Đức quốc (243 lượt xem) - Trung Hoa (114 lượt xem) - Central African Republic (82 lượt xem) - Australia (49 lượt xem) - Na-uy (40 lượt xem) - Nhật Bản (13 lượt xem) - Hà Lan (12 lượt xem) - Phần Lan (8 lượt xem) - Hong Kong (7 lượt xem) - Ấn Độ (6 lượt xem) - Italy (6 lượt xem) - Tây Ban Nha (6 lượt xem) - Đài Loan (6 lượt xem) - Senegal (5 lượt xem) - Luxembourg (4 lượt xem) - Singapore (4 lượt xem) - Cộng hòa Czech (3 lượt xem) - Thái Lan (3 lượt xem) - Romania (2 lượt xem) - Morocco (2 lượt xem) - Algeria (1 lượt xem) - Saudi Arabia (1 lượt xem) - Jordan (1 lượt xem) - Nepal (1 lượt xem) - Kenya (1 lượt xem) - Indonesia (1 lượt xem) - Philippines (1 lượt xem) - ... ...