Người ngu nghĩ mình ngu, nhờ vậy thành có trí. Người ngu tưởng có trí, thật xứng gọi chí ngu.Kinh Pháp cú (Kệ số 63)

Chúng ta không làm gì được với quá khứ, và cũng không có khả năng nắm chắc tương lai, nhưng chúng ta có trọn quyền hành động trong hiện tại.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Chấm dứt sự giết hại chúng sinh chính là chấm dứt chuỗi khổ đau trong tương lai cho chính mình.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Hạnh phúc chân thật là sự yên vui, thanh thản mà mỗi chúng ta có thể đạt đến bất chấp những khó khăn hay nghịch cảnh. Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Người ta thuận theo sự mong ước tầm thường, cầu lấy danh tiếng. Khi được danh tiếng thì thân không còn nữa.Kinh Bốn mươi hai chương
Sự nguy hại của nóng giận còn hơn cả lửa dữ. Kinh Lời dạy cuối cùng
Giữ tâm thanh tịnh, ý chí vững bền thì có thể hiểu thấu lẽ đạo, như lau chùi tấm gương sạch hết dơ bẩn, tự nhiên được sáng trong.Kinh Bốn mươi hai chương
Dễ thay thấy lỗi người, lỗi mình thấy mới khó.Kinh Pháp cú (Kệ số 252)
Kỳ tích sẽ xuất hiện khi chúng ta cố gắng trong mọi hoàn cảnh.Sưu tầm
Hạnh phúc là khi những gì bạn suy nghĩ, nói ra và thực hiện đều hòa hợp với nhau. (Happiness is when what you think, what you say, and what you do are in harmony.)Mahatma Gandhi
Như đá tảng kiên cố, không gió nào lay động, cũng vậy, giữa khen chê, người trí không dao động.Kinh Pháp cú (Kệ số 81)

Trang chủ »» Danh mục »» Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: thệ »»

Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: thệ








KẾT QUẢ TRA TỪ


thệ:

(誓) Phạm: Svabhàva hoặc Bhàva. Pàli:Sabhàva hoặcBhàva. I. Thể. Chỉ cho thực thể hoặc thể tính, là bản chất của pháp, cũng là điều kiện căn bản để pháp tồn tại. Tại Ấn độ đời xưa, học phái Số luận chủ trương thể của tất cả các pháp là một; còn phái Thắng luận thì chủ trương ngược lại là thể của tất cảcác pháp đều khác. Thuyết nhất thiết hữu bộ cũng cho rằng thể củacác pháp đều khác, đều là có thật; tông Duy thức thì chủ trương tất cả các pháp có 3 tính khác nhau là Biến kế sở chấp, Y tha khởi, Viên thành thực và cho tính Viên thành thực là thể tính chân thật của tất cả pháp. Ngoài ra, các bộ luận như luận Thập bát không, luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính, luận Đại thừa khởi tín... thì chủ trương Chân như là thực thể của hết thảy các pháp. II. Thể. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho danh từ trước(tiền trần) của Tông(mệnh đề) trong luận thức Nhân minh. Như trong mệnh đề Âm thanh là vô thường thì âm thanh là Thể, vô thường (danh từ sau của Tông) là Nghĩa. Vì danh từ trước và danh từ sau chỉ biểu thị sự khác nhau về vị trí chứ không thể biểu thị tác dụng và sự quan hệ giữa 2 Tông y(chỗ nương của Tông thể, tức danh từ trước và danh từ sau), cho nên các học giả Nhân minh mới lập riêng tên gọi Thể và Nghĩa để nêu rõ tác dụng và mối quan hệ giữa các Tông y. Lập Tông là dùng nghĩa trong danh từ sau để nêu rõ thể của danh từ trước; như trong mệnh đề âm thanh là vô thường thì dùng vô thường(Nghĩa) để nêu rõ tính năng, đặc sắc của âm thanh (Thể), đồng thời cũng để phân biệt với vật khác. Thể có 3 tên là Tự tính, Hữu pháp và Sở biệt; Nghĩa cũng có 3 tên là Sai biệt, Hữu pháp và Pháp. Trong đó, tự tính và sai biệt, hữu pháp và pháp, sở biệt và năng biệt đều đối nhau, được trình bày như sau: 1. Tự tính và sai biệt: Có 3 tiêu chuẩn để phân biệt giữa tự tính và sai biệt: a. Cục thông đối: Lấy cục và thông làm tiêu chuẩn để phân biệt giữa tự tính và sai biệt. Những điều được trình bày trong danh từ trước(Tiền trần) chỉ hạn cuộc ở Tông chư không quán thông ngoài Tông, vì thế danh từ trước còn được gọi là Tự tính; còn những điều được trình bày trong danh từ sau (Hậu trần) thì thông suốtđến ngoài Tông, cho nên danh từ sau cũng được gọi làSai biệt. Tự tính chỉ hạn cuộc ở Tông, cho nên phạm vi hẹp hơn sai biệt. Như mệnh đề (Tông): Âm thanh là vô thường thì âm thanh(danh từ trước) chỉ hạn cuộc ở Tông, không quán thông đến sắc, hương... ở ngoài Tông; còn Vô thường(danh từ sau) thì không chỉ hạn cuộc ở Tông mà quán thông đến các vật khác ngoài Tông. Nghĩa là không phải chỉ có âm thanh là vô thường mà cái bàn, cái ghế... cũng có tính vô thường, cho nên phạm vi của sai biệt rộng hơn phạm vi của tự tính. Cứ theo đó thì Tự tính và Sai biệt được dùng để nêu rõ sự quan hệ Thể hẹp Nghĩa rộng. b. Tiên hậu đối: Thể(danh từ trước) là phần đầu của Tông thể mà đặc sắc và chủng loại được nói rõ trong danh từ sau, trước Thể không có danh từ nào khác, cho nên nó được gọi là Tự tính. Nghĩa(danh từ sau) là phần cuối của Tông thể, tác dụng của Nghĩa là nói rõ tính loại biệt của danh từ trước, vì thế được gọi là Sai biệt. Danh từ trước mới chỉ nói âm thanh chứ chưa nói rõ đặc sắc cũng như chủng loại của âm thanh, cho nên được gọi là Tự tính; đến khi nói ra vô thường thì đặc sắcvà chủng loại của âm thanh mới được nêu rõ ràng; vô thường trong danh từ sau đã phân biệt âm thanh trong danh từ trước từ các loại khác và cũng đặt âm thanh vào chủng loại của chính nó, cho nên danh từ sau được gọi là Sai biệt. Cứ theo đó thì mục tiêu của Tự tính và Sai biệt là nêu rõ tác dụng phân loại giữa Thể và Nghĩa. c. Ngôn hứa đối: Ngôn chỉ cho ngôn trần, tức những điều được trình bày rõ ràng qua ngôn ngữ; Hứa chỉ cho ý hứa, tức những điều ý ngầm chấp nhận(chứ không nói rõ ra bằng lời). Nhưng đứng trên quan điểm tương đối giữa Tự tính và Sai biệt mà nói thì Ngôn trần là chỉ cho những điều mà lời nói trình bày và những điều mà ý ngầm chấp nhận đã nhất trí với nhau; còn Ýhứa là chỉ cho những điều mà lời nói trình bày và những điều mà ý ngầm chấp nhận không hoàn toàn nhất trí với nhau. Ngôn trần thì trong ngoài khớp nhau nên gọi là Tự tính; Ý hứa thì trong ngoài khác nhau nên gọi là Sai biệt. Bởi vì giữa Tự tính và Sai biệt được thành lập theo Ngôn hứa đối với Tự tính và Sai biệt được thành lập theo Thông cục đối và Tiên hậu đối, tên gọi tuy giống nhau nhưng ý nghĩa thì khác nhau. Tự tính nói trong Thông cục đối và Tiên hậu đối nhất định là Thể; Sai biệt nói trong Thông cục đối và Tiên hậu đối nhất định là Nghĩa; còn Tự tính nói trong Ngôn hứa đối thì có thể là Thể, mà cũng có thể là Nghĩa, Sai biệt nói trong Ngôn hứa đối có thể là Nghĩa, mà cũng có thể là Thể. Nếu điều được trình bày trong Thể nhất trí với Ý hứa thì Thể là Tự tính, nếu không nhất trí thì Thể là Sai biệt. Còn điều được nói trong Nghĩa không nhất trí với Ý hứa thì cố nhiên là Sai biệt, nhưng, nếu nhất trí thì Nghĩa cũng là Tự tính. 2. Hữu pháp và Pháp: Danh từ trước cũng gọi là Hữu pháp, danh từ sau cũng gọi là Pháp. Pháp có 2 nghĩa: 1. Năng trì tự thể(có công năng giữ gìn được tự thể của nó). 2. Quĩ sinh tha giải(cái khuôn phép khiến người khác nhìn thấy là hiểu được), phải có đủ 2 nghĩa trên mới được gọi là Pháp. Như trong mệnh đề âm thanh là vô thường thì âm thanh(danh từ trước) tuy giữ gìn được tự thân, nhưng không giới hạn được việc khác, không thể từ đó có được sự hiểu biết khác; còn vô thường(danh từ sau) thì chẳng những giữ gìn được tự thân vô thường, mà còn có thể giới hạn âm thanh (danh từ trước), giúp người ta nảy sinh hiểu biết mới(tức vô thường chẳng phải là thường trụ). Do đó, danh từ sau vừa có nghĩa trì lại đủ nghĩa quĩ, nên được gọi là Pháp. Còn âm thanh(danh từ trước) tuy không là Pháp nhưng lại có thuộc tính vô thường nên gọi là Hữu pháp. Theo đó có thể nói danh từ trước là năng hữu, danh từ sau là sở hữu. 3. Sở biệt và năng biệt: Danh từ trước cũng gọi là Sở biệt, danh từ sau cũng gọi là Năng biệt. Như trong mệnh đề âm thanh là vô thường thì dùng vô thường để bàn về âm thanh, nêu rõ âm thanh thuộc loại vô thường và khác với loại thường trụ, cho nên âm thanh là sở biệt, vô thường là năng biệt. Tên gọi này do suy diễn theo Tiên hậu đối của Tự tính và Sai biệt mà có, chia Sai biệt thành Năng và Sở để gọi là Nghĩa và Thể.


Nếu muốn duyệt qua từng vần trong từ điển,
xin nhập vào ô dưới đây vần tương ứng. Ví dụ: A, B, C...

Nhập vần muốn tra:
Để giới hạn kết quả tìm kiếm chính xác hơn, quý vị có thể nhập 2 hoặc 3 chữ cái đầu vần. Ví dụ, để tìm những chữ như thiền, thiện... quý vị nên nhập thi thay vì t... sẽ cho một kết quả gần với yêu cầu của quý vị hơn.

Quý vị đang truy cập từ IP 54.166.232.243 (916908275) và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn hatran Rộng Mở Tâm Hồn Nhuận Hoà Minh Rộng Mở Tâm Hồn Bảo Cẩm Rộng Mở Tâm Hồn Chơn Hòa Rộng Mở Tâm Hồn Vanthien Rộng Mở Tâm Hồn baole Rộng Mở Tâm Hồn Đồng Liên Rộng Mở Tâm Hồn HUYNH KIM BINH Rộng Mở Tâm Hồn Quoc Phan Rộng Mở Tâm Hồn Lý triệu vy Rộng Mở Tâm Hồn Bữu Phước Rộng Mở Tâm Hồn Jerry Rộng Mở Tâm Hồn BangTam04101989 Rộng Mở Tâm Hồn NhatPhienBangTam041089 Rộng Mở Tâm Hồn Hoàng Ân 1324578905 Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Vân Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Trí 1975 Rộng Mở Tâm Hồn Giác Vân Rộng Mở Tâm Hồn Tâm châu Rộng Mở Tâm Hồn Ngọc Chi Rộng Mở Tâm Hồn Phan văn Hoàng Rộng Mở Tâm Hồn Cang nguyen Rộng Mở Tâm Hồn Suthivu Rộng Mở Tâm Hồn Nguyen Thi Ngoc dung Rộng Mở Tâm Hồn Đàm oanh Rộng Mở Tâm Hồn duong an Rộng Mở Tâm Hồn Bồ Công Anh Rộng Mở Tâm Hồn Giangtrunhuan Rộng Mở Tâm Hồn Trí Thể Rộng Mở Tâm Hồn Huusuantam Rộng Mở Tâm Hồn Dũng Đặng Rộng Mở Tâm Hồn tran134 Rộng Mở Tâm Hồn Minh Phan Rộng Mở Tâm Hồn TRUNG HÒA Rộng Mở Tâm Hồn Phúc Sơn Rộng Mở Tâm Hồn Tường Linh Rộng Mở Tâm Hồn SeamoonVu Rộng Mở Tâm Hồn phuoc huynh Rộng Mở Tâm Hồn Soline Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Thanh Trí ... ...

Việt Nam (19.536 lượt xem) - Hoa Kỳ (7.362 lượt xem) - Đức quốc (1.238 lượt xem) - Pháp quốc (780 lượt xem) - Australia (131 lượt xem) - Anh quốc (125 lượt xem) - Phần Lan (30 lượt xem) - Trung Hoa (30 lượt xem) - Central African Republic (14 lượt xem) - Cambodia (7 lượt xem) - Ấn Độ (5 lượt xem) - Nga (3 lượt xem) - Đài Loan (3 lượt xem) - Thái Lan (2 lượt xem) - Iran (2 lượt xem) - Hong Kong (1 lượt xem) - Hà Lan (1 lượt xem) - ... ...