Hạnh phúc không phải là điều có sẵn. Hạnh phúc đến từ chính những hành vi của bạn. (Happiness is not something ready made. It comes from your own actions.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV

Kẻ thất bại chỉ sống trong quá khứ. Người chiến thắng là người học hỏi được từ quá khứ, vui thích với công việc trong hiện tại hướng đến tương lai. (Losers live in the past. Winners learn from the past and enjoy working in the present toward the future. )Denis Waitley
Cỏ làm hại ruộng vườn, sân làm hại người đời. Bố thí người ly sân, do vậy được quả lớn.Kinh Pháp Cú (Kệ số 357)
Nếu bạn muốn những gì tốt đẹp nhất từ cuộc đời, hãy cống hiến cho đời những gì tốt đẹp nhất. (If you want the best the world has to offer, offer the world your best.)Neale Donald Walsch
Tìm lỗi của người khác rất dễ, tự thấy lỗi của mình rất khó. Kinh Pháp cú
Thành công là tìm được sự hài lòng trong việc cho đi nhiều hơn những gì bạn nhận được. (Success is finding satisfaction in giving a little more than you take.)Christopher Reeve
Chưa từng có ai trở nên nghèo khó vì cho đi những gì mình có. (No-one has ever become poor by giving.)Anne Frank
Dễ thay thấy lỗi người, lỗi mình thấy mới khó.Kinh Pháp cú (Kệ số 252)
Mỗi ngày, hãy mang đến niềm vui cho ít nhất một người. Nếu không thể làm một điều tốt đẹp, hãy nói một lời tử tế. Nếu không nói được một lời tử tế, hãy nghĩ đến một việc tốt lành. (Try to make at least one person happy every day. If you cannot do a kind deed, speak a kind word. If you cannot speak a kind word, think a kind thought.)Lawrence G. Lovasik
Học Phật trước hết phải học làm người. Làm người trước hết phải học làm người tốt. (學佛先要學做人,做人先要學做好人。)Hòa thượng Tinh Không
Ai sống quán bất tịnh, khéo hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, có lòng tin, tinh cần, ma không uy hiếp được, như núi đá, trước gió.Kinh Pháp Cú (Kệ số 8)

Trang chủ »» Danh mục »» Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: thệ »»

Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: thệ








KẾT QUẢ TRA TỪ


thệ:

(誓) Phạm: Svabhàva hoặc Bhàva. Pàli:Sabhàva hoặcBhàva. I. Thể. Chỉ cho thực thể hoặc thể tính, là bản chất của pháp, cũng là điều kiện căn bản để pháp tồn tại. Tại Ấn độ đời xưa, học phái Số luận chủ trương thể của tất cả các pháp là một; còn phái Thắng luận thì chủ trương ngược lại là thể của tất cảcác pháp đều khác. Thuyết nhất thiết hữu bộ cũng cho rằng thể củacác pháp đều khác, đều là có thật; tông Duy thức thì chủ trương tất cả các pháp có 3 tính khác nhau là Biến kế sở chấp, Y tha khởi, Viên thành thực và cho tính Viên thành thực là thể tính chân thật của tất cả pháp. Ngoài ra, các bộ luận như luận Thập bát không, luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính, luận Đại thừa khởi tín... thì chủ trương Chân như là thực thể của hết thảy các pháp. II. Thể. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho danh từ trước(tiền trần) của Tông(mệnh đề) trong luận thức Nhân minh. Như trong mệnh đề Âm thanh là vô thường thì âm thanh là Thể, vô thường (danh từ sau của Tông) là Nghĩa. Vì danh từ trước và danh từ sau chỉ biểu thị sự khác nhau về vị trí chứ không thể biểu thị tác dụng và sự quan hệ giữa 2 Tông y(chỗ nương của Tông thể, tức danh từ trước và danh từ sau), cho nên các học giả Nhân minh mới lập riêng tên gọi Thể và Nghĩa để nêu rõ tác dụng và mối quan hệ giữa các Tông y. Lập Tông là dùng nghĩa trong danh từ sau để nêu rõ thể của danh từ trước; như trong mệnh đề âm thanh là vô thường thì dùng vô thường(Nghĩa) để nêu rõ tính năng, đặc sắc của âm thanh (Thể), đồng thời cũng để phân biệt với vật khác. Thể có 3 tên là Tự tính, Hữu pháp và Sở biệt; Nghĩa cũng có 3 tên là Sai biệt, Hữu pháp và Pháp. Trong đó, tự tính và sai biệt, hữu pháp và pháp, sở biệt và năng biệt đều đối nhau, được trình bày như sau: 1. Tự tính và sai biệt: Có 3 tiêu chuẩn để phân biệt giữa tự tính và sai biệt: a. Cục thông đối: Lấy cục và thông làm tiêu chuẩn để phân biệt giữa tự tính và sai biệt. Những điều được trình bày trong danh từ trước(Tiền trần) chỉ hạn cuộc ở Tông chư không quán thông ngoài Tông, vì thế danh từ trước còn được gọi là Tự tính; còn những điều được trình bày trong danh từ sau (Hậu trần) thì thông suốtđến ngoài Tông, cho nên danh từ sau cũng được gọi làSai biệt. Tự tính chỉ hạn cuộc ở Tông, cho nên phạm vi hẹp hơn sai biệt. Như mệnh đề (Tông): Âm thanh là vô thường thì âm thanh(danh từ trước) chỉ hạn cuộc ở Tông, không quán thông đến sắc, hương... ở ngoài Tông; còn Vô thường(danh từ sau) thì không chỉ hạn cuộc ở Tông mà quán thông đến các vật khác ngoài Tông. Nghĩa là không phải chỉ có âm thanh là vô thường mà cái bàn, cái ghế... cũng có tính vô thường, cho nên phạm vi của sai biệt rộng hơn phạm vi của tự tính. Cứ theo đó thì Tự tính và Sai biệt được dùng để nêu rõ sự quan hệ Thể hẹp Nghĩa rộng. b. Tiên hậu đối: Thể(danh từ trước) là phần đầu của Tông thể mà đặc sắc và chủng loại được nói rõ trong danh từ sau, trước Thể không có danh từ nào khác, cho nên nó được gọi là Tự tính. Nghĩa(danh từ sau) là phần cuối của Tông thể, tác dụng của Nghĩa là nói rõ tính loại biệt của danh từ trước, vì thế được gọi là Sai biệt. Danh từ trước mới chỉ nói âm thanh chứ chưa nói rõ đặc sắc cũng như chủng loại của âm thanh, cho nên được gọi là Tự tính; đến khi nói ra vô thường thì đặc sắcvà chủng loại của âm thanh mới được nêu rõ ràng; vô thường trong danh từ sau đã phân biệt âm thanh trong danh từ trước từ các loại khác và cũng đặt âm thanh vào chủng loại của chính nó, cho nên danh từ sau được gọi là Sai biệt. Cứ theo đó thì mục tiêu của Tự tính và Sai biệt là nêu rõ tác dụng phân loại giữa Thể và Nghĩa. c. Ngôn hứa đối: Ngôn chỉ cho ngôn trần, tức những điều được trình bày rõ ràng qua ngôn ngữ; Hứa chỉ cho ý hứa, tức những điều ý ngầm chấp nhận(chứ không nói rõ ra bằng lời). Nhưng đứng trên quan điểm tương đối giữa Tự tính và Sai biệt mà nói thì Ngôn trần là chỉ cho những điều mà lời nói trình bày và những điều mà ý ngầm chấp nhận đã nhất trí với nhau; còn Ýhứa là chỉ cho những điều mà lời nói trình bày và những điều mà ý ngầm chấp nhận không hoàn toàn nhất trí với nhau. Ngôn trần thì trong ngoài khớp nhau nên gọi là Tự tính; Ý hứa thì trong ngoài khác nhau nên gọi là Sai biệt. Bởi vì giữa Tự tính và Sai biệt được thành lập theo Ngôn hứa đối với Tự tính và Sai biệt được thành lập theo Thông cục đối và Tiên hậu đối, tên gọi tuy giống nhau nhưng ý nghĩa thì khác nhau. Tự tính nói trong Thông cục đối và Tiên hậu đối nhất định là Thể; Sai biệt nói trong Thông cục đối và Tiên hậu đối nhất định là Nghĩa; còn Tự tính nói trong Ngôn hứa đối thì có thể là Thể, mà cũng có thể là Nghĩa, Sai biệt nói trong Ngôn hứa đối có thể là Nghĩa, mà cũng có thể là Thể. Nếu điều được trình bày trong Thể nhất trí với Ý hứa thì Thể là Tự tính, nếu không nhất trí thì Thể là Sai biệt. Còn điều được nói trong Nghĩa không nhất trí với Ý hứa thì cố nhiên là Sai biệt, nhưng, nếu nhất trí thì Nghĩa cũng là Tự tính. 2. Hữu pháp và Pháp: Danh từ trước cũng gọi là Hữu pháp, danh từ sau cũng gọi là Pháp. Pháp có 2 nghĩa: 1. Năng trì tự thể(có công năng giữ gìn được tự thể của nó). 2. Quĩ sinh tha giải(cái khuôn phép khiến người khác nhìn thấy là hiểu được), phải có đủ 2 nghĩa trên mới được gọi là Pháp. Như trong mệnh đề âm thanh là vô thường thì âm thanh(danh từ trước) tuy giữ gìn được tự thân, nhưng không giới hạn được việc khác, không thể từ đó có được sự hiểu biết khác; còn vô thường(danh từ sau) thì chẳng những giữ gìn được tự thân vô thường, mà còn có thể giới hạn âm thanh (danh từ trước), giúp người ta nảy sinh hiểu biết mới(tức vô thường chẳng phải là thường trụ). Do đó, danh từ sau vừa có nghĩa trì lại đủ nghĩa quĩ, nên được gọi là Pháp. Còn âm thanh(danh từ trước) tuy không là Pháp nhưng lại có thuộc tính vô thường nên gọi là Hữu pháp. Theo đó có thể nói danh từ trước là năng hữu, danh từ sau là sở hữu. 3. Sở biệt và năng biệt: Danh từ trước cũng gọi là Sở biệt, danh từ sau cũng gọi là Năng biệt. Như trong mệnh đề âm thanh là vô thường thì dùng vô thường để bàn về âm thanh, nêu rõ âm thanh thuộc loại vô thường và khác với loại thường trụ, cho nên âm thanh là sở biệt, vô thường là năng biệt. Tên gọi này do suy diễn theo Tiên hậu đối của Tự tính và Sai biệt mà có, chia Sai biệt thành Năng và Sở để gọi là Nghĩa và Thể.


Nếu muốn duyệt qua từng vần trong từ điển,
xin nhập vào ô dưới đây vần tương ứng. Ví dụ: A, B, C...

Nhập vần muốn tra:
Để giới hạn kết quả tìm kiếm chính xác hơn, quý vị có thể nhập 2 hoặc 3 chữ cái đầu vần. Ví dụ, để tìm những chữ như thiền, thiện... quý vị nên nhập thi thay vì t... sẽ cho một kết quả gần với yêu cầu của quý vị hơn.

_______________

TỪ ĐIỂN HỮU ÍCH CHO NGƯỜI HỌC TIẾNG ANH

DO NXB LIÊN PHẬT HỘI PHÁT HÀNH




BẢN BÌA CỨNG (HARDCOVER)
1200 trang - 54.99 USD



BẢN BÌA THƯỜNG (PAPERBACK)
1200 trang - 45.99 USD



BẢN BÌA CỨNG (HARDCOVER)
728 trang - 29.99 USD



BẢN BÌA THƯỜNG (PAPERBACK)
728 trang - 22.99 USD

Mua sách qua Amazon sẽ được gửi đến tận nhà - trên toàn nước Mỹ, Canada, Âu châu và Úc châu.

XEM TRANG GIỚI THIỆU.



Quý vị đang truy cập từ IP 216.73.216.34 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Viên Hiếu Thành Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Lộc 1959 Rộng Mở Tâm Hồn Bữu Phước Rộng Mở Tâm Hồn Chúc Huy Rộng Mở Tâm Hồn Minh Pháp Tự Rộng Mở Tâm Hồn minh hung thich Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Âm Phúc Thành Rộng Mở Tâm Hồn Phan Huy Triều Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thiên Rộng Mở Tâm Hồn Trương Quang Quý Rộng Mở Tâm Hồn Johny Rộng Mở Tâm Hồn Dinhvinh1964 Rộng Mở Tâm Hồn Pascal Bui Rộng Mở Tâm Hồn Vạn Phúc Rộng Mở Tâm Hồn Giác Quý Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Huyền Rộng Mở Tâm Hồn Chanhniem Forever Rộng Mở Tâm Hồn NGUYỄN TRỌNG TÀI Rộng Mở Tâm Hồn KỲ Rộng Mở Tâm Hồn Dương Ngọc Cường Rộng Mở Tâm Hồn Mr. Device Rộng Mở Tâm Hồn Tri Huynh Rộng Mở Tâm Hồn Thích Nguyên Mạnh Rộng Mở Tâm Hồn Thích Quảng Ba Rộng Mở Tâm Hồn T TH Rộng Mở Tâm Hồn Tam Thien Tam Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Sĩ Long Rộng Mở Tâm Hồn caokiem Rộng Mở Tâm Hồn hoangquycong Rộng Mở Tâm Hồn Lãn Tử Rộng Mở Tâm Hồn Ton That Nguyen Rộng Mở Tâm Hồn ngtieudao Rộng Mở Tâm Hồn Lê Quốc Việt Rộng Mở Tâm Hồn Du Miên Rộng Mở Tâm Hồn Quang-Tu Vu Rộng Mở Tâm Hồn phamthanh210 Rộng Mở Tâm Hồn An Khang 63 Rộng Mở Tâm Hồn zeus7777 Rộng Mở Tâm Hồn Trương Ngọc Trân Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Tiến ... ...

... ...