Người khôn ngoan chỉ nói khi có điều cần nói, kẻ ngu ngốc thì nói ra vì họ buộc phải nói. (Wise men speak because they have something to say; fools because they have to say something. )Plato

Sự nguy hại của nóng giận còn hơn cả lửa dữ. Kinh Lời dạy cuối cùng
Hầu hết mọi người đều cho rằng sự thông minh tạo nên một nhà khoa học lớn. Nhưng họ đã lầm, chính nhân cách mới làm nên điều đó. (Most people say that it is the intellect which makes a great scientist. They are wrong: it is character.)Albert Einstein
Giặc phiền não thường luôn rình rập giết hại người, độc hại hơn kẻ oán thù. Sao còn ham ngủ mà chẳng chịu tỉnh thức?Kinh Lời dạy cuối cùng
Chúng ta thay đổi cuộc đời này từ việc thay đổi trái tim mình. (You change your life by changing your heart.)Max Lucado
Tôi tìm thấy hy vọng trong những ngày đen tối nhất và hướng về những gì tươi sáng nhất mà không phê phán hiện thực. (I find hope in the darkest of days, and focus in the brightest. I do not judge the universe.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Tôn giáo không có nghĩa là giới điều, đền miếu, tu viện hay các dấu hiệu bên ngoài, vì đó chỉ là các yếu tố hỗ trợ trong việc điều phục tâm. Khi tâm được điều phục, mỗi người mới thực sự là một hành giả tôn giáo.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Hạnh phúc đích thực không quá đắt, nhưng chúng ta phải trả giá quá nhiều cho những thứ ta lầm tưởng là hạnh phúc. (Real happiness is cheap enough, yet how dearly we pay for its counterfeit.)Hosea Ballou
Sự hiểu biết là chưa đủ, chúng ta cần phải biết ứng dụng. Sự nhiệt tình là chưa đủ, chúng ta cần phải bắt tay vào việc. (Knowing is not enough; we must apply. Willing is not enough; we must do.)Johann Wolfgang von Goethe
Chúng ta không thể đạt được sự bình an nơi thế giới bên ngoài khi chưa có sự bình an với chính bản thân mình. (We can never obtain peace in the outer world until we make peace with ourselves.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Khó thay được làm người, khó thay được sống còn. Khó thay nghe diệu pháp, khó thay Phật ra đời!Kinh Pháp Cú (Kệ số 182)

Trang chủ »» Danh mục »» Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: tất đàm »»

Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: tất đàm








KẾT QUẢ TRA TỪ


tất đàm:

(悉曇) Phạm: Siddhaô, Siddhàô. Cũng gọi Tất đán, Tứ đàm, Tất đàn, Thất đán, Thất đàm. Hán dịch: Thành tựu, Thành tựu cát tường. Từ gọi chung các chữ cái(mẫu âm, tử âm, tức các nguyên âm và phụ âm)của tiếng Phạm. Từ thế kỉ VII về trước, văn tự Tất đàm vốn đã thịnh hành ở Ấn độ. Ở Trung quốc, vào thời Nam Bắc triều, văn tự Tất đàm đã được các vị học giả dịch kinh truyền vào và được người Trung quốc đón nhận học tập. Các tác phẩm như: Phạm ngữ thiên tự văn 1 quyển của ngài Nghĩa tịnh, Tất đàm tự kí 1 quyển của ngài Trí quảng, Tự mẫu biểu 1 quyển của ngài Nhất hạnh... đời Đường là những trứ tác rất cần thiết cho sự học tập tiếng Phạm ở đương thời. Các tác phẩm này được truyền đến Nhật bản vào khoảng thời đại Nại lương về trước. Tại Trung quốc, thể chữ và chữ cái của chữ Phạm được gọi là Tất đàm, còn văn phạm và giải thích câu văn tiếng Phạm thì gọi là Phạm âm hoặc Phạm ngữ để phân biệt. Nhưng người Nhật thì chẳng những gọi thể chữ của chữ Phạm là Tất đàm mà cả cách viết, cách đọc, văn pháp... tiếng Phạm cũng gọi là Tất đàm. 1. Theo Tất đàm tự kí của ngài Trí quảng, nếu nói theo nghĩa rộng thì Tất đàm là từ gọi chung Ma đa(nguyên âm) và Thể văn(phụ âm), còn nói theo nghĩa hẹp thì Tất đàm là chỉ cho 12 vận Ma đa. Ma đa,Phạm:Màtfkà, nghĩa là mẫu, cũng gọi Vận, chỉ cho 16 chữ mẫu âm (xem biểu đồ 1); trong đó, có 4 chữ tương đối ít dùng, gọi là Biệt ma đa. Bốn chữ ấy là:F, f, ơ, ơ; 12 chữ còn lại gọi là Thông ma đa, hoặc 12 vận Tất đàm, 12 chương Tất đàm. Đồng thời, chữaô và chữa# là chuyển hóa từ chữa mà ra, chứ không phải vận chính; trong 16 mẫu âm, trừ 2 chữ aô và a# ra, còn lại 14 âm. Hai chữ này vì đứng giữa Ma đa và Thể văn nên gọi là Giới bạn(giữa ranh giới 2 bên).Thể văn, Phạm: Vyaĩjana, có 35 chữ(xem biểu đồ 1), trong 25 chữ đầu, cứ mỗi 5 chữ y theo cách phát âm, thứ tự gọi là Nha thanh(âm yết hầu), Xỉ thanh(âm lợi), Thiệt thanh(âm lưỡi), Hầu thanh (âm răng) và Thần thanh (âm môi), gọi là Ngũ loại thanh(Ngũ ngũ thanh, Tương tùy thanh). Còn 10 chữ sau cùng, gọi chung là Biến khẩu thanh (Mãn khẩu thanh); Biến khẩu thanh nghĩa là tiếng mà khi phát âm phải há rộng miệng. Trong đó, chữ (llaô) là do 2 chữ (la) hợp thành 1 chữ kép (Hợp thành tự, Phức hợp tự); chữ (kwa) là do 2chữ (ka) và (wa) hợp lại bằng cách chồng lên nhau mà thành 1 chữ kép khác, vì thế nó không phải là mẫu tự nguyên bản mà là do các chữ khác tạo thành. (X.Đồ Biểu I). Xưa nay, khi bàn về Tất đàm thì mỗi tự mẫu đều lập ra 3 môn: Hình(thể chữ), Âm (phát âm) và Nghĩa(ý nghĩa). Về âm thì có 2 lối truyền: Trung thiên trúc và Nam thiên trúc, đồng thời cũng bao hàm Liên thanh pháp(như sự biến hóa về âm vận của 2 tiếng nối liền với nhau). Về nghĩa, để dễ nhớ nên ghép các tự mẫu thành những chữ có ý nghĩa nhất định, gọi là Tự môn. Tất đàm vốn là văn tự biểu âm chứ không phải văn tự biểu ý, cho nên chỉ riêng 1 chữ thì đều không có ý nghĩa, nhưng người Ấn độ từ bé đã học thuộc lòng tự mẫu bằng 1 phương pháp riêng. Chẳng hạn như chữ a nghĩa là vốn không sinh (chữ Phạm: Anutpàda), tức là chọn 1 từ ngữ có bao hàm tự mẫu A, hoặc chọn từ ngữ có thể dựa theo hình dáng của chữ mà liên tưởng để dễ nhớ, tự mẫu như vậy có 1 ý nghĩa nhất định. Trong Phật giáo có thuyết 50 tự môn, 42 tự môn; riêng Mật giáo vốn rất coi trọng thuyết này. Chữ Chân ngôn lập 2 môn: Tự tướng và Tự nghĩa, mỗi chữ có 2 cách giải thích là Thiển lược(nông cạn) và Thâm bí(sâu xa), chủ trương thuyết Thanh tự thực tướng. Mật giáo cho rằng 50 tự môn đều là Pháp mạn đồ la tự nhiên, trùm khắp 3 đời 10 phương, tuyệt đối bất biến. Còn thuyết 42 tự môn cũng gọi là 42 tự môn Đà la ni. Văn tự Đà la ni hoàn toàn khác với thuyết 50 tự môn, không lấy tự mẫu làm mục đích, cho nên, về mặt văn tự, cách sắp xếp và trình bày không được rõ ràng mạch lạc như 50 tự môn, hơn nữa, lại thiếu mất 15 chữ mẫu âm và 4 chữ tử âm mà thêm vào 11 chữ kép(Hợp thành tự, Phức hợp tự) như đồ biểu II sau đây: 2. Các pháp tắc về xuyết tự, hợp tự, liên thanh... của tự mẫu Tất đàm thì được ghi trong 18 chương, từ chương Ca ca cho đến chương Cô hợp, gọi là 18 chương Tất đàm, 18 chương Tất đàm kiếnlập, hoặc Tất đàm thiết kế... Thông thường, các tự mẫu tập hợp và những chữ kép được gọi là Tất đàm chương. 3. Về hệ phổ tương thừa của Tất đàm, phái Thai mật căn cứ vào Tất đàm tạng quyển 1 của ngài An nhiên mà chủ trương 4 loại Tất đàm tương thừa khác nhau là: Phạm vương tương thừa (Nam thiên tương thừa), Long cung tương thừa (Trung thiên tương thừa), Thích ca tương thừa(do Hiển giáo truyền) và Đại nhật tương thừa(do Mật giáo truyền). Trong Tất đàm chương tương thừa khẩu thuyết quyển thượng, ngài Ẩm quang(Từ vân tôn giả) thuộc phái Đông mật phê phán thuyết trên, đồng thời cho rằng Phạm vương tức là Đại nhật; còn trong Tất đàm khảo thí biểu bạch thì ngài Không hải người Nhật, chủ trương Tất đàm kiêm truyền Trung thiên tương thừa (thứ tự: Long mãnh, Long trí, Kim cương trí, Bất không, Huệ quả...) và Nam thiên tương thừa(thứ tự: Bát nhã cù sa, Bát nhã bồ đề, Trí quảng...). [X. luận Đại trí độ Q.48; điều Tây phương học pháp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Tất đàm tạng Q.4; Đại bát niết bàn kinh nghĩa kí Q.4 (Tuệ viễn)].


Nếu muốn duyệt qua từng vần trong từ điển,
xin nhập vào ô dưới đây vần tương ứng. Ví dụ: A, B, C...

Nhập vần muốn tra:
Để giới hạn kết quả tìm kiếm chính xác hơn, quý vị có thể nhập 2 hoặc 3 chữ cái đầu vần. Ví dụ, để tìm những chữ như thiền, thiện... quý vị nên nhập thi thay vì t... sẽ cho một kết quả gần với yêu cầu của quý vị hơn.

Quý vị đang truy cập từ IP 54.156.42.165 (916204197) và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Lối nhỏ vào đạo Rộng Mở Tâm Hồn Ngawang Tashi Rộng Mở Tâm Hồn Chúc Hải Rộng Mở Tâm Hồn Quảng Chuyên Rộng Mở Tâm Hồn Tai Lam Rộng Mở Tâm Hồn Bình Hà Rộng Mở Tâm Hồn Trần Bình Rộng Mở Tâm Hồn Tâm châu Rộng Mở Tâm Hồn hoangdao Rộng Mở Tâm Hồn NGUYEN XUAN TUNG Rộng Mở Tâm Hồn Truong Minh Chanh Rộng Mở Tâm Hồn Ton That Nguyen Rộng Mở Tâm Hồn mlan0147 Rộng Mở Tâm Hồn Nhi Trần Rộng Mở Tâm Hồn Từ Bi Tâm Rộng Mở Tâm Hồn Bữu Phước Rộng Mở Tâm Hồn Nam Nguyen Rộng Mở Tâm Hồn Minh Thái Hồng Rộng Mở Tâm Hồn Tracey Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Văn Thông Rộng Mở Tâm Hồn Le thi minh Rộng Mở Tâm Hồn Mật Hạnh Rộng Mở Tâm Hồn Buu Ngoc Rộng Mở Tâm Hồn Giangtrunhuan Rộng Mở Tâm Hồn Tên Rộng Mở Tâm Hồn minhnguyetle2709 Rộng Mở Tâm Hồn thuonghylenien Rộng Mở Tâm Hồn thangvictory Rộng Mở Tâm Hồn Trần quốc toản Rộng Mở Tâm Hồn minhduc1207 Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Lộc 1959 Rộng Mở Tâm Hồn raihumora Rộng Mở Tâm Hồn tienpham Rộng Mở Tâm Hồn hatran Rộng Mở Tâm Hồn Hùng Thới Rộng Mở Tâm Hồn Na tiên Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Ngọc Luật Rộng Mở Tâm Hồn nguyễn văn khang Rộng Mở Tâm Hồn La Thị Linh Kiều Rộng Mở Tâm Hồn Thiên Bảo 13 ... ...

Việt Nam (20.747 lượt xem) - Hoa Kỳ (7.563 lượt xem) - Đức quốc (803 lượt xem) - Pháp quốc (327 lượt xem) - Australia (93 lượt xem) - Anh quốc (64 lượt xem) - Đài Loan (13 lượt xem) - Trung Hoa (12 lượt xem) - Nga (11 lượt xem) - Hong Kong (5 lượt xem) - Ấn Độ (4 lượt xem) - Thái Lan (3 lượt xem) - Singapore (2 lượt xem) - Central African Republic (2 lượt xem) - Hà Lan (1 lượt xem) - Na-uy (1 lượt xem) - ... ...