Sự giúp đỡ tốt nhất bạn có thể mang đến cho người khác là nâng đỡ tinh thần của họ. (The best kind of help you can give another person is to uplift their spirit.)Rubyanne

Nên biết rằng tâm nóng giận còn hơn cả lửa dữ, phải thường phòng hộ không để cho nhập vào. Giặc cướp công đức không gì hơn tâm nóng giận.Kinh Lời dạy cuối cùng
Sự kiên trì là bí quyết của mọi chiến thắng. (Perseverance, secret of all triumphs.)Victor Hugo
Chớ khinh tội nhỏ, cho rằng không hại; giọt nước tuy nhỏ, dần đầy hồ to! (Do not belittle any small evil and say that no ill comes about therefrom. Small is a drop of water, yet it fills a big vessel.)Kinh Đại Bát Niết-bàn
Các sinh vật đang sống trên địa cầu này, dù là người hay vật, là để cống hiến theo cách riêng của mình, cho cái đẹp và sự thịnh vượng của thế giới.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Sự nguy hại của nóng giận còn hơn cả lửa dữ. Kinh Lời dạy cuối cùng
Sự vắng mặt của yêu thương chính là điều kiện cần thiết cho sự hình thành của những tính xấu như giận hờn, ganh tỵ, tham lam, ích kỷ...Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Kẻ thù hại kẻ thù, oan gia hại oan gia, không bằng tâm hướng tà, gây ác cho tự thânKinh Pháp Cú (Kệ số 42)
Không thể dùng vũ lực để duy trì hòa bình, chỉ có thể đạt đến hòa bình bằng vào sự hiểu biết. (Peace cannot be kept by force; it can only be achieved by understanding.)Albert Einstein
Cỏ làm hại ruộng vườn, sân làm hại người đời. Bố thí người ly sân, do vậy được quả lớn.Kinh Pháp Cú (Kệ số 357)
Nhẫn nhục có nhiều sức mạnh vì chẳng mang lòng hung dữ, lại thêm được an lành, khỏe mạnh.Kinh Bốn mươi hai chương

Trang chủ »» Danh mục »» Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: tăng quan »»

Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: tăng quan








KẾT QUẢ TRA TỪ


tăng quan:

(僧官) Các chức vụ của chư tăng do triều đình bổ nhiệm để thống lãnh tăng ni các chùa viện trên toàn quốc nhằm duy trì kỉ cương và phát triển Phật giáo. Tại Ấn độ, trong Tăng đoàn có các chức vụ như: Thượng tọa, Tự chủ, Giám viện, Duy na, Trực nhật, Trực nguyệt, Trực tuế... nhưng không có chế độ quan chức; nếu tăng ni vi phạm giới luật thì do Tăng đoàn tự phân xử, phán quyết. Ở Trung quốc, tăng ni phần nhiều được triều đình che chở, không được thi hành chế độ tự trị, vì thế Tăng quan cần phải được thiết lập. Chế độ Tăng quan bắt đầu từ thời đại Ngụy, Tấn thuộc Nam Bắc triều, về sau, trải bao triều đại đều thừa kế chế độ này, chỉ có tên gọi các chức vị Tăng quan thì tùy triều đại mà có thay đổi. Như truyện ngài Tăng lược trong Lương cao tăng truyện quyển 6 ghi: Ở phương Bắc, người đầu tiên lập Tăng quan là vua Diêu hưng (ở ngôi 393-416) nhà Hậu Tần, lập ngài Tăng lược làm Tăng chính, ngài Tăng thiên làm Duyệt chúng, các ngài Pháp khâm và Tuệ bân làm Tăng lục để cai quản tăng ni. Thời Bắc Ngụy, khoảng năm Hoàng thủy (396-397), vua Đạo vũ đế ban sắc bổ nhiệm sa môn Pháp quả làm Đạo nhân thống để thống lãnh tăng đồ. Sau pháp nạn Thái vũ đế diệt Phật, Văn thành đế nối ngôi, liền ra sức phục hưng Phật giáo, thiết lập chế độ Tăng quan duy nhất để thống nhiếp Tăng đoàn. Ở trung ương đặt Giám phúc tào, do Đạo nhân thống làm chánh và Đô duy na làm phó để điều hành tăng sự. Niên hiệu Hưng an năm đầu (452), sa môn Sư hiền, người nước Kế tân, được bổ nhiệm làm Đạo nhân thống. Sau khi ngài Sư hiền tịch, chức Đạo nhân thống được đổi là Sa môn thống, do ngài Đàm diệu kế nhiệm. Các châu, quận, huyện thì thiết lập Tăng tào do Sa môn thống các địa phương làm chủ quản. Niên hiệu Hòa bình năm đầu (460), Giám phúc tào được đổi làm Chiêu huyền tự(theo Ngụy thư thích lão chí thì việc này diễn ra vào thời vua Hiếu văn đế), đặt 1 vị Đại thống, 1 vị Thống và 3 vị Đô duy na, đồng thời, thiết lập các chức Công tào và Chủ bạ viên... Trong đó, chức Đại thống dường như chưa được chính thức bổ nhiệm. Chiêu huyền tự được quyền xét xử các tăng ni phạm tội sát nhân trở xuống. Năm Thái hòa 17 (493) đời vua Hiếu văn đế, 47 điều tăng chế được đặt ra. Khoảng năm Vĩnh bình (508-511) đời vua Tuyên vũ đế, các chùa viện ở các châu quận thiết lập Tam cương (Tam quan), gồm có Thượng tọa, Tự chủ và Duy na. Về sau, Bắc Ngụy chia làm Đông Ngụy và Tây Ngụy. Đông Ngụy gọi chức Chiêu huyền thống của Chiêu huyền tự là Quốc thống, gọi Chiêu huyền Đô duy na là Quốc đô. Niên hiệu Đại thống năm đầu (535) đời vua Văn đế của Tây Ngụy, ngài Đạo trân ở chùa Đại trung hưng được bổ nhiệm làm Sa môn đại thống của nước Ngụy, không bao lâu lại lập thêm chức Chiêu huyền tam tạng, sắc ban Chu quốc tam tạng làm Tăng quan trung ương, Hạ châu tam tạng và An châu tam tạng làm Tăng quan địa phương, trông coi các việc như nghi lễ, giáo học... trong Tăng đoàn. Thời Bắc Tề, vào năm Thiên bảo thứ 2 (551) đời vua Văn tuyên đế, thiết lập chức Chiêu huyền thập thống, do 10 vị cao tăng đảm nhiệm; ngài Pháp thượng được cử đứng đầu Thập thống, gọi là Chiêu huyền đại thống, cũng gọi Chiêu huyền thống, còn 9 vị kia thì gọi là Thông thống. Theo truyện Hồng tuân trong Tục cao tăng truyện quyển 21, ngài Hồng tuân được cử giữ chức Đoán sự sa môn, có trách nhiệm xử lí các tăng ni vi phạm kỉ cương. Chế độ Tăng quan ở phương Nam có lẽ bắt đầu với chức Tăng chính ở Thục quận vào thời vua An đế (397-417) đời Đông Tấn, do quan Thứ sử Ích châu là Mao cừ thiết lập và do sa môn Tăng cung đảm nhiệm, nhưng đây là Tăng quan địa phương. Đến khoảng năm Vũ đế (ở ngôi 420-422) đời Lưu Tống, Tăng quan trung ương mới được thiết lập, do ngài Pháp hòa chùa Ngõa quan làm Tăng chủ. Trong năm Đại minh (457-464), vua Hiếu vũ đế ban sắc bổ nhiệm sa môn Đạo ôn làm Đô ấp tăng chính. Niên hiệu Thái thủy năm đầu (465), vua Minh đế sắc lệnh bổ nhiệm sa môn Tăng cẩn làm Thiên hạ tăng chủ. Chức Tăng quan thuộc các thời đại Nam triều tiếp tục dùng tên gọi Tăng chính hoặc Tăng chủ, nhưng các Tăng chính, Tăng chủ ở địa phương tương đối có thực quyền hơn các Tăng chính, Tăng chủ ở trung ương. Năm Thái thủy thứ 2 (467), Ni sư Bảo hiền làm Đô ấp Ni tăng chính và Ni sư Pháp tịnh làm Đô ấp Ni đô duy na, đây là lần đầu tiên các vị tỉ khưu ni được bổ nhiệm Tăng quan. Khoảng năm Vĩnh minh (483-493), vua Vũ đế nhà Nam Tề cùng lúc ban sắc bổ nhiệm ngài Pháp hiến chùa Định lâm thượng và ngài Huyền sướng chùa Trường can làm Tăng chủ Giang nam và Giang bắc. Về sau, Tăng quan lại được chia ra Đông và Tây. Theo Lương cao tăng truyện quyển 8, sa môn Tuệ cơ từng được bổ nhiệm làm Đông thổ tăng chính, thống lãnh chúng tăng ở 10 thành khoảng đất Ngô và Cối kê. Sa môn Tuệ cầu thì vào niên hiệu Trung hưng năm đầu (501) đời vua Hòa đế, được bổ nhiệm làm Kinh thổ tăng chính. Đến năm Phổ thông thứ 6 (525), vua Lương vũ đế sắc lệnh bổ nhiệm ngài Pháp vân chùa Quang trạch làm Đại tăng chính, đó là chức Đại tăng chính đầu tiên được thiết lập. Ngài Pháp vân nhân đó lại lập Tăng chế để làm phép tắc cho đời sau. Niên hiệu Thiên gia năm đầu (560), vua Trần văn đế ban sắc bổ nhiệm ngài Bảo quỳnh chùa Đại bành thành làm Kinh ấp đại tăng chính, cũng gọi Kinh ấp đại tăng thống. Niên hiệu Chí đức năm đầu (583), vua Trần hậu chủ ban sắc bổ nhiệm sa môn Tuệ hằng làm Kinh ấp đại tăng đô, sau chuyển nhiệm làm Đại tăng chính. Đời Tùy kế thừa chế độ Ngụy, Tề, Tăng quan lấy Thống làm Chánh và Đô làm Phó, đồng thời dùng cả danh xưng Tăng chủ và Tăng chính; đổi Chiêu huyền tự làm Sùng huyền thự, đặt dưới Hồng lô tự (nơi tiếp đãi khách nước ngoài và sứ thần triều cống). Niên hiệu Khai hoàng năm đầu (581), vua Văn đế ban chiếu bổ nhiệm ngài Tăng mãnh chùa Đại hưng thiện làm Tùy Quốc Đại Thống, Thánh sa di làm Quốc tăng đô. Năm Khai hoàng thứ 10 (591), thiết lập các quan chức như: Chiêu huyền đại thống, Chiêu huyền thống, Ngoại quốc tăng chủ... Theo Tùy thư bách quan chí 23, vào năm Đại nghiệp thứ 3 (607), Dượng đế đổi các chùa Phật gọi là Đạo tràng, ở các Đạo tràng và các Đạo quán (chùa của Đạo giáo) lập Giám thừa do ngài Đàm diên đảm nhiệm và chức Bình đẳng sa môn do ngài Trí tụ đảm trách. Có thuyết cho rằng Tăng quan đời Tùy không có tổ chức thống nhất quản lí, chỉ theo lệ thường và phương tiện quyền nghi mà lập ra các chức. Đến đời Đường, dưới Hồng lô tự cũng lập Sùng huyền thự. Năm Vũ đức thứ 3 (620), vua Cao tổ lại bổ nhiệm 10 vị Tăng quan, gọi là Thập đại đức. Vài năm sau, chế độ quan lại trung ương dần dần được hoàn bị, cơ cấu Tăng quan trung ương liền bị bãi bỏ và thay vào đó dùng quan thế tục quản lí các việc liên quan đến Tăng đoàn, như Tất viên giám, Từ bộ, Tả nhai đại công đức sứ, Hữu nhai đại công đức sứ, Đông đô công đức sứ... Thời Vũ hậu, Từ bộ(coi về việc cúng lễ, thiên văn, y dược...) quản lí các sự vụ liên quan đến Phật giáo, Sùng huyền thự quản lí các sự vụ liên quan đến Đạo giáo. Vào thời Trung Đường, chế độ Tăng quan trung ương được thiết lập trở lại, như các ngài Trừng quán, Duy anh... được bổ nhiệm làm Tăng thống, nhưng chỉ trên danh nghĩa chứ không có thực quyền. Đầu những năm Nguyên hòa (806-820), dưới Tả hữu lưỡng nhai công đức sứ, lập thêm chức Tăng lục để trông coi các việc của tăng ni ở Trung ương, ngài Vân thúy làm Hữu nhai tăng lục và ngài Đoan phủ làm Tả nhai tăng lục. Khoảng năm Càn ninh (894-897) đời vua Chiêu tông, ngài Giác huy giữ chức Lưỡng nhai Phó tăng lục, đây là chức Phó tăng lục đầu tiên. Ngoài ra, ở đầu đời Đường còn có chức Tăng thống, là vị Tăng quan cao nhất ở địa phương. Các chùa viện trong nước thì có chức Tam cương do vị Thượng tọa đảm nhiệm. Vào thời Nam, Bắc Tống, ở thủ đô Khai phong thiết lập Tả nhai tăng lục ti và Hữu nhai tăng lục ti để quản lí về sổ tăng tịch và bổ nhiệm Tăng quan; trong đó có các chức: Tăng lục, Phó tăng lục, Giảng kinh thủ tọa, Giảng luận thủ tọa... (2 chức sau đến đời Nam Tống bị bãi bỏ); dưới Tăng lục có Thứ vụ viên,gọi là Giám nghĩa, thời Nam Tống lập thêm chức Ngạch ngoại giám nghĩa. Tăng quan các địa phương thì dùng theo chế độ Tăng quan đời Đường, tức các châu mỗi châu lập 1 chức Tăng chính, dưới có Phó tăng chính, Tăng phán... Đến đời Nguyên, viện Tuyên chính thống lãnh Tăng đoàn toàn quốc, trong đó lập các chức như: Tổng thống, Tăng lục, Chính đô cương, Phó đô cương... Năm Đại đức thứ 6 (1302), vua Thành tông ban sắc lệnh, các Tăng quan và tăng ni nói chung nếu phạm tội thì do Ngự sử đài và Nội ngoại tuyên chính viện xử lí. Tại các châu đặt Tăng chính ti, dưới đó lập Tăng chính và Phó tăng chính, các huyện thì đặt Đô cương. Năm Chí thuận thứ 2 (1331) ở các nơi thiết lập 16 sở Quảng giáo tổng quản phủ, bao gồm các địa phương như: Kinh kì sơn hậu đạo, Lưỡng hoài giang bắc đạo, Quảng tây lưỡng hải đạo, Cam túc chư lộ... Cơ cấu chi nhánh của Đại đô tuyên chính viện ở Giang nam là sở Thích giáo tổng thống, do vị Tăng quan địa phương làm Giám đốc. Đến đời Minh, vào những năm đầu, vua Thái tổ thiết lập Thiện thế viện ở chùa Thiên giới tại Kim lăng để thống lãnh giáo đoàn, đặt các chức: Thống lãnh, Phó thống lãnh, Tán giáo, Kỉ hóa... Năm Hồng vũ 15 (1382), thiết lập Tại kinh tăng lục ti và Tại ngoại tăng lục ti. Trong Tại kinh tăng lục ti lại lập Chính lục phẩm tả thiện thế, Chính lục phẩm hữu thiện thế, Tòng lục phẩm tả xiển giáo, Tòng lục phẩm hữu xiển giáo; Chính bát phẩm tả giảng kinh và Chính bát phẩm hữu giảng kinh; Tòng bát phẩm tả giác nghĩa và Tòng bát phẩm hữu giác nghĩa... Dưới Tại ngoại tăng lục ti thì thiết lập: 1. Tăng cương ti cấp phủ: Có 1 chức Đô cương và 1 chức Phó đô cương. 2. Tăng chính ti cấp châu: Có 1 chức Tăng chính. 3. Tăng hội ti cấp huyện: Có 1 chức Tăng hội. Nhiệm vụ của các cơ cấu trên đây là: Kiểm tra nhân số tăng ni, lập thành sổ bộ; Tuyển chọn Trụ trì các chùa viện; Cấp phát độ điệp; Xem xét, chỉ đạo tăng ni làm việc. Sang đời Thanh, chế độ Tăng quan được thiết lập theo chế độ Tăng quan đời Minh, nhưng không có thực quyền thống lãnh tăng ni. Chế độ Tăng quan ở Hàn quốc bắt đầu vào năm thứ 11 (550) đời vua Chân hưng xứ Tân la, bấy giờ lập 1 vị Đại thư tỉnh, do Pháp sư An tang đảm nhiệm. Về sau lại lập thêm 2 vị Tiểu thư tỉnh. Năm sau, Pháp sư Huệ lượng, người Cao cú li, được cử làm Quốc thống (Tự chủ), Pháp sư Bảo lương làm Đại đô duy na. Thời Thiện đức Nữ vương (632-646), Pháp sư Từ tạng được bổ nhiệm làm Đại quốc thống. Năm Nguyên thánh vương thứ 3 (787), 2 ngài Huệ anh và Phạm như làm Tiểu thư tỉnh. Lại lập 9 vị Châu thống và 18 vị Quận thống. Đến triều Cao li cũng có chế độ Tăng thống, Tăng lục. Cứ theo Cao li sử quyển 8, 16, 17, 39 và Triều tiên thông giám quyển 37, vào năm Văn tông 21 (1067), chùa Hưng vương được khánh thành, vua ban sắc cho Hữu nhai tăng lục Đạo nguyên tuyển chọn 1000 vị tăng giới hạnh trang nghiêm đến dự lễ. Năm Nhân tông 12 (1134), ngài Tịnh tâm làm Tam trùng đại thống. Năm Nghị tông thứ 2 (1148), ngài Pháp tôn Huyền hi làm Cực thế tăng thống. Năm Cung mẫn vương thứ 5 (1356), ngài Phổ ngu được vua phong làm Vương sư. Đến triều Lí, năm Thế tông thứ 6 (1425), 7 tông của Phật giáo Triều tiên được hợp thành Thiền tông và Giáo tông, bãi bỏ chức quan Tăng lục ti. Năm Tuyên tổ 26 (1592) lại lập chức Tăng thống, chiêu mộ Tăng binh, ngài Tây sơn được cử làm Đô tổng nhiếp và ngài Tùng vân làm Phó tổng nhiếp. Chế độ này được người đời sau tiếp tục sử dụng. Tại Nhật bản, Tăng quan cũng gọi là Tăng cương, chế độ này bắt đầu vào năm Suy cổ thiên hoàng 32 (624), ngài Quán lặc làm Tăng chính, ngài An bộ Đức tích làm Tăng đô, ngài Hà đàm liên làm Pháp đầu. Năm Thiên hoàng Thiên vũ 12 (684), các chức trên được đổi là Tăng chính, Tăng đô, Luật sư..., gọi chung là Tam cương. Tháng 1 năm Thiên bình 17 (745), ngài Hành cơ được cử làm Đại tăng chính. Năm Trinh quán thứ 6 (864), các cấp bậc Tăng quan được xếp theo các Tăng vị: Pháp ấn, Pháp nhãn, Pháp kiều...; Pháp ấn là cấp bậc Tăng chính, Pháp nhãn là cấp Tăng đô, Pháp kiều là cấp Luật sư. Đến đời Túc lợi Nghĩa mãn lại phỏng theo chế độ Tăng quan các đời Đường, Tống của Trung quốc, thiết lập quan chức Tăng lục, cai quản các chùa viện Thiền tông Ngũ sơn, Thập sát. Đến đầu thời Minh trị, chế độ Tăng quan bị bãi bỏ. Năm Minh trị 17 (1884), các tông phái được chính phủ thừa nhận, tự đặt ra tông chế, tự pháp, lập Tăng chính, Tăng đô... để thống lãnh giáo đoàn. [X. Lương cao tăng truyện Q.7, 11, 13; Tỉ khưu ni truyện Q.3; Tục cao tăng truyện Q.9, 10, 23; Tống cao tăng truyện Q.6, 29; Phật tổ thống kí Q.36, 41, 42, 51, 54; Đại thanh hội điển Q.248; Cổ kim đồ thư tập thành thần dịđiển 59, 65].


Nếu muốn duyệt qua từng vần trong từ điển,
xin nhập vào ô dưới đây vần tương ứng. Ví dụ: A, B, C...

Nhập vần muốn tra:
Để giới hạn kết quả tìm kiếm chính xác hơn, quý vị có thể nhập 2 hoặc 3 chữ cái đầu vần. Ví dụ, để tìm những chữ như thiền, thiện... quý vị nên nhập thi thay vì t... sẽ cho một kết quả gần với yêu cầu của quý vị hơn.

Quý vị đang truy cập từ IP 54.166.201.210 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn drhothanh Rộng Mở Tâm Hồn Tony Rộng Mở Tâm Hồn Tôn Giác Minh Rộng Mở Tâm Hồn Ngọc Anh Rộng Mở Tâm Hồn Tuệ Quang Rộng Mở Tâm Hồn Phan Huy Triều Rộng Mở Tâm Hồn Vạn Phúc Rộng Mở Tâm Hồn Thích Quán Triệt Rộng Mở Tâm Hồn gsruan Rộng Mở Tâm Hồn Sonny View Rộng Mở Tâm Hồn chuakimquy Rộng Mở Tâm Hồn Tam Thien Tam Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Hương Trang Rộng Mở Tâm Hồn sam tran Rộng Mở Tâm Hồn Trần Tuấn Rộng Mở Tâm Hồn Tri Bao Nhat Rộng Mở Tâm Hồn Hạt bụi Rộng Mở Tâm Hồn Beajimin Jp Rộng Mở Tâm Hồn ngocbichlekim Rộng Mở Tâm Hồn thuong tri Rộng Mở Tâm Hồn phmaikd Rộng Mở Tâm Hồn Binhnguyen Rộng Mở Tâm Hồn Judy Nguyen Rộng Mở Tâm Hồn Lien Anh Rộng Mở Tâm Hồn Trần Phú Tân Rộng Mở Tâm Hồn Tu2014417@gmail.com Rộng Mở Tâm Hồn Bình Hà Rộng Mở Tâm Hồn Anh Duong Rộng Mở Tâm Hồn Vô Trí Sĩ Rộng Mở Tâm Hồn NE Rộng Mở Tâm Hồn Trần Ngọc Minh Rộng Mở Tâm Hồn Goldfish Hanoi Rộng Mở Tâm Hồn lê hương Rộng Mở Tâm Hồn Thiện Thọ Rộng Mở Tâm Hồn Trần Duy Minh Rộng Mở Tâm Hồn Ly X Tran Rộng Mở Tâm Hồn Phượng bùi Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Văn Ngọc Rộng Mở Tâm Hồn Trang 305 Rộng Mở Tâm Hồn mebahel ... ...

Việt Nam (1,224.318 lượt xem) - Hoa Kỳ (10.265 lượt xem) - Đức quốc (232 lượt xem) - Pháp quốc (85 lượt xem) - Anh quốc (44 lượt xem) - Australia (42 lượt xem) - Romania (39 lượt xem) - Nga (32 lượt xem) - Philippines (11 lượt xem) - Na-uy (11 lượt xem) - Central African Republic (10 lượt xem) - Nhật Bản (6 lượt xem) - Hong Kong (4 lượt xem) - Đài Loan (3 lượt xem) - Ấn Độ (2 lượt xem) - Indonesia (1 lượt xem) - Trung Hoa (1 lượt xem) - Hà Lan (1 lượt xem) - Nepal (1 lượt xem) - ... ...