Cách tốt nhất để tiêu diệt một kẻ thù là làm cho anh ta trở thành một người bạn. (The best way to destroy an enemy is to make him a friend.)Abraham Lincoln

Khi gặp phải thảm họa trong đời sống, ta có thể phản ứng theo hai cách. Hoặc là thất vọng và rơi vào thói xấu tự hủy hoại mình, hoặc vận dụng thách thức đó để tìm ra sức mạnh nội tại của mình. Nhờ vào những lời Phật dạy, tôi đã có thể chọn theo cách thứ hai. (When we meet real tragedy in life, we can react in two ways - either by losing hope and falling into self-destructive habits, or by using the challenge to find our inner strength. Thanks to the teachings of Buddha, I have been able to take this second way.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Nếu quyết tâm đạt đến thành công đủ mạnh, thất bại sẽ không bao giờ đánh gục được tôi. (Failure will never overtake me if my determination to succeed is strong enough.)Og Mandino
Ai dùng các hạnh lành, làm xóa mờ nghiệp ác, chói sáng rực đời này, như trăng thoát mây che.Kinh Pháp cú (Kệ số 173)
Người có trí luôn thận trọng trong cả ý nghĩ, lời nói cũng như việc làm. Kinh Pháp cú
Chúng ta trở nên thông thái không phải vì nhớ lại quá khứ, mà vì có trách nhiệm đối với tương lai. (We are made wise not by the recollection of our past, but by the responsibility for our future.)George Bernard Shaw
Kẻ yếu ớt không bao giờ có thể tha thứ. Tha thứ là phẩm chất của người mạnh mẽ. (The weak can never forgive. Forgiveness is the attribute of the strong.)Mahatma Gandhi
Lửa nào sánh lửa tham? Ác nào bằng sân hận? Khổ nào sánh khổ uẩn? Lạc nào bằng tịnh lạc?Kinh Pháp Cú (Kệ số 202)
Tôn giáo không có nghĩa là giới điều, đền miếu, tu viện hay các dấu hiệu bên ngoài, vì đó chỉ là các yếu tố hỗ trợ trong việc điều phục tâm. Khi tâm được điều phục, mỗi người mới thực sự là một hành giả tôn giáo.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Các sinh vật đang sống trên địa cầu này, dù là người hay vật, là để cống hiến theo cách riêng của mình, cho cái đẹp và sự thịnh vượng của thế giới.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Chúng ta không học đi bằng những quy tắc mà bằng cách bước đi và vấp ngã. (You don't learn to walk by following rules. You learn by doing, and by falling over. )Richard Branson

Trang chủ »» Danh mục »» Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: thiên thai tông »»

Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: thiên thai tông








KẾT QUẢ TRA TỪ


thiên thai tông:

(天臺宗) Cũng gọi Pháp hoa tông, Thiên thai pháp hoa tông, Thai tông, Viên tông, Thai gia.Tông phái lớn của Phật giáo Trung quốc, lấy giáo chỉ kinh Pháp hoa làm nền tảng, doĐại sư Trí khảitrụ ở núi Thiên thai sáng lập, là 1 trong 13 tông ở Trung quốc, 1 trong 8 tông ở Nhật bản. Ngài Trí khải vốn thờ Thiền sư Tuệ tư (511- 577) ở núi Nam nhạc làm thầy, tu tập 3 loại pháp Chỉ quán; Thiền sư Tuệ tư kế thừa yếu chỉ Nhất tâm tam trí nơi Thiền sư Tuệ văn đời Bắc Tề. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 1,phần đầu thì Thiền sư Tuệ văn nương vào luận Đại trí độ mà tu được pháp quán tâm, lại nêu bài kệ Trung luận làm nền tảng cho nhất tâm tam quán, sau khi ngài Tuệ tư học được pháp quán tâm ấy liền khai phát tam muội Pháp hoa, soạn ra Pháp hoa kinh an lạc hành nghi, Tùy tự ý tam muội, Chư pháp vô tránh tam pháp môn... Vào niên hiệu Thiên gia năm đầu (560) đời Trần, ngài Trí khải yết kiến Thiền sư Tuệ tư, thụ họctam muội Pháp hoa, 4 hạnh an lạc, đọc kinh Pháp hoa đến câu Thị chân tinh tiến, thị danh chân pháp cúng dường (là tinh tiến chân thực, đó gọi là pháp cúng dường chân thực), liền bừng tỉnh tỏ ngộ. Sau, sư đến chùa Ngõa quan ở Kim lăng dùng khai đề của kinh Pháp hoa để diễn giảng luận Đại trí độ, giải thích Thứ đệ thiền môn. Năm Thái kiến thứ 7 (575), ngài Trí khải đến núi Thiên thai, ở ẩn trong 10 năm. Sư soạn Pháp hoa huyền nghĩa, Ma ha chỉ quán và Pháp hoa văn cú, được gọi là Thiên thai tam đại bộ. Đầu đời Đường, sư đến chùa Ngọc tuyền ở Kinh châu giảng Pháp hoa huyền nghĩa, thuyết Ma ha chỉ quán, cho nên tông Thiên thai tuy tônồ tát Long thụ làm Sơ tổ, ngài Trí khải là tổ thứ 4, nhưng y cứ vào việc tập đại thành tư tưởng truyền thừa thì đúng ra ngài Trí khải mới là Tổ khai sáng của tông Thiên thai. Học trò của sư rất đông, đệ tử nối pháp thì có 32 vị, trong đó, ngài Quán đính (561- 632), thờ Đại sư Trí khải hơn 20 năm, có khả năng nhận lãnh và truyền trì di giáo của Đại sư. Ngài Quán đính soạn Đại bát niết bàn kinh huyền nghĩa cập sớ, Quán tâm luận sớ... vài mươi quyển, là Tổ thứ 2. Rồi truyền thừa đến Tổ thứ 3 Trí uy, Tổ thứ 4 Tuệ uy, Tổ thứ 5 Huyền lãng, dưới ngài Huyền lãng có Tổ thứ 6 Trạm nhiên (711- 782) vốn tu tập Thai học hơn 20 năm. Sư mở rộng giáo pháp Thiên thai, từng được sắc triệu của 3 vị vua như Huyền tông... nhưng sư đều tạ từ. Sư chuyên việc soạn thuật và diễn giảng, được tôn xưng là Tổ trung hưng của tông Thiên thai. Soạn phẩm của sư gồm hơn 20 bộ như Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm, Pháp hoa văn cú kí, Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết, Chỉ quán nghĩa lệ, Kim cương ti... Sư đề xướng các nghĩa Phi tình Phật tính, Vô tình hữu tính, chủ trương cây cỏ, gạch đá cũng có tính Phật. Ngoài ra, sư còn dung hợp tư tưởng của tông này với thuyết của luận Đại thừa khởi tín để xác lập nền tảng cho giáo học Thiên thai đời Tống. Đệ tử của sư có các vị Đạo thúy, Hành mãn, Nguyên hạo, Đạo xiêm, Minh khoáng... ngài Đạo thúy lại truyền cho các vị Tông dĩnh, Lương tư. Không bao lâu xảy ra pháp nạn Hội Xương và các cuộc chiến loạn ở cuối đời Đường, đầu thời Ngũ đại kéo dài, đã làm cho phần lớn sách vở chương sớ của tông Thiên thai bi thất lạc, do đó tông này dần dần rơi vào tình trạng suy vi. Sau, có vị tăng nước Cao li là ngài Đế quán, đáp lời thỉnh cầu của Trung ý vương nước Ngô Việt, mang 1 lượng lớn kinh sách Thiên thai đến Trung quốc, tông Thiên thai nhờ đó dần dần được phục hưng. Ngài Nghĩa thông từ nước Cao li đến thờ Tổ Nghĩa tịch thứ 12 của tông Thiên thai làm thầy, hoằng dương giáo quán, đó là Tổ thứ 13. Học trò của sư Nghĩa thông có các vị Tứ minh Tri lễ (960-1028), Từ vân Tuân thức..., ngài Tri lễ soạn Chi yếu sao, Diệu tông sao, cùng với hệ thống ngài Tuân thức đều cùng phái Thiên thai sơn gia. Một vị đệ tử khác của ngài Nghĩa tịch là Từ quang Chí nhân, truyền xuống cho các vị Ngô ân, Nguyên thanh, Hồng mẫn, Cô sơn Trí viên (976-1022), Phạm thiên Khánh chiêu (963-1017)... Hệ thống này gọi là phái Sơn ngoại. Cuộc tranh luận giữa 2 phái Sơn gia và Sơn ngoại bắt nguồn từ vấn đề chân, ngụy liên quan đến quảng bản Kim quang minh huyền nghĩa của Đại sư Trí khải, từ đó dần dần diễn biến thành cuộc tranh luận đối lập giữa Duy tâm luận và Thực tướng luận. Ngài Tri lễ thuộc phái Sơn gia từng đối lại với thuyết Chân tâm quán của ngài Ngô ân thuộc phái Sơn ngoại mà soạn Phù tông thích nạn đề xướng thuyết Vọng tâm quán đã làm cho cuộc luận chiến giữa 2 phái kéo dài đến 40 năm! Về phái Sơn ngoại, học trò ngài Khánh chiêu có các vị Hàm nhuận, Kế tề... tiếp nối. Học thuyết của phái Sơn ngoại thường bị chê trách là không thuần túy, cho nên chẳng bao lâu bị suy vi. Pháp hệ của ngài Tứ minh Tri lễ thuộc phái Sơn gia thì rất phồn thịnh, có 3 vị đệ tử là Quảng trí Thượng hiền, Thần chiếu Bản như và Nam bình Phạm trăn được gọi là Tứ minh tam gia. Đến đời Nguyên thì thế lực tông Thiên thai quá suy yếu, khó vực dậy được. Sang đời Minh, các ngài U khê, Truyền đăng, Chân giác... mở rộng Sơn gia chính tông. Đến ngài Ngẫu ích Trí húc (1599-1655) thì viện dẫn Duy thức, yếu chỉ Thiền tông để hỗ trợ cho việc phát huy giáo quán Thiên thai. Nhưng cũng vì đề xướng thuyết Tính, Tướng dung hợp, Thiền, Tịnh nhất trí mà tự rước lấy vận suy. Tông Thiên thai Nhật bản thì tôn Truyền giáo Đại sư Tối trừng làm Sơ tổ. Sư từng đến Trung quốc vào đời Đường thụ pháp nơi các vị đệ tử ngài Trạm nhiên như Đạo thúy, Hành mãn... Sau khi trở về Nhật bản, sư khai sáng yếu chỉ nhất trí giữa 4 tông: Viên giáo, Thiền, Viên giới và Mật giáo ở núi Tỉ duệ, khác với tông Thiên thai của Trung quốc. Rồi đệ tử của ngài Tối trừng là sư Viên nhân và đệ tử của ngài Nghĩa chân là sư Viên trân cũng lần lượt đến Trung quốc vào đời Đường thờ các ngài Tông dĩnh, Lương tư làm thầy, học giáo pháp Thiên thai, lại còn thụ học các pháp bí yếu của 3 bộ Kim, Thai, đại pháp Tô tất địa và các kinh quĩ tân dịch, làm cho giáo học Mật giáo Thiên thai được phát triển phổ biến. Đến thời ngài An nhiên thì tông Thiên thai của Nhật bản đã được Mật giáo hóa một cách cực đoan. Từ ngài Nghĩa chân về sau, vị Tọa chủ Thiên thai thống trị một tông, nhưng đến các ngài Viên nhân, Viên trân trở đi thì pháp hệ tách ra làm hai. Đồ chúng của ngài Viên trân đi ra khỏi núi Tỉ duệ, trụ ở chùa Viên thành(chùa Tam tỉnh) gọi là Tự môn; núi Tỉ duệ thì gọi là Sơn môn. Sơn môn đến thời ngài Lương nguyên, giáo học lấy Viên giáo sẵn có làm tông chỉ, các đệ tử ưu tú xuất hiện rất đông và thế lực tông này nổi lên khá mạnh. Đệ tử ngài Lương nguyên là Nguyên tín thì cổ xúy tư tưởng Tịnh độ, lập ra dòng Huệ tâm; một vị đệ tử khác là Giác vận thì lập dòng Đàn na, gọi chung là Huệ Đàn Nhị Lưu (Hai dòng Huệ-Đàn). Cộng chung, hệ thống Thai mật(Mật giáo thuộc tông Thiên thai) đến đời sau, có tất cả 13 dòng phái thuộc tông Thiên thai. Đến cuối thời kì Bình an về sau thì các dòng phái thuộc tông Thiên thai nói trên dần dần xem trọng khẩu truyền, do đó sinh ra chủ trương Khẩu truyền pháp môn. Trái lại, phương diện giáo học thì dần dần suy vi. Ngoài ra, sự vùng dậy của tăng binh, sự tranh cướp của chính quyền, cộng với việc đốt phá của Chức điền Tín trường... đều đã góp phần đưa núi Tỉ duệ đến thời sụp đổ. Cho mãi đến thời đại Giang hộ, núi Đông duệ, núi Nhật quang lần lượt được khai sáng mới phục hồi được sự hưng thịnh như xưa. Lại nhờ Mạc phủ đương thời khuyến khích việc học vấn nên giáohọc cũng dần dần phục hưng. Hiện nay có các tông phái như: Tông Thiên thai (chùa Diên lịch, núi Tỉ duệ), tông Thiên thai tự môn(chùa Viên thành), tông Thiên thai chân thịnh (chùa Tây giáo)... Giáo nghĩa của tông Thiên thai có thể lược chia ra các khoa: Tam đế viên dung, Nhất niệm tam thiên, Nhất tâm tam quán, Lục tức...Tông này lại dùng 5 thời 8 giáo để phán thích Thánh giáo một đời của đức Phật.Từ đời Dân quốc (1912) về sau, Thiên thai học được phục hưng nhờ sự nỗ lực của Đại sư Đế nhàn (1858-1932), ngài sáng lập Quán tông nghiên cứu xã, chuyên môn giáo dục người học Thiên Thai, nhân tài xuất hiện rất nhiều, như các vị tôn túc: Nhân sơn, Thường tỉnh, Bảo tĩnh, Tĩnh tu,Đàm hư, Thiên định, Khả đoan... [X. Phật tổ thống kỉ Q.5-22; Thiên thai cửu tổ truyện; Thiên thai sơn phương ngoại chí; Bát tông cương yếu Q.hạ; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.12]. (xt. Sơn Gia Sơn Ngoại; Ngũ Thời Bát Giáo, Thai Mật, Tam Đế, Nhất Niệm, Tam Thiên, Nhất Tâm Tam Quán, Lục Tức).


Nếu muốn duyệt qua từng vần trong từ điển,
xin nhập vào ô dưới đây vần tương ứng. Ví dụ: A, B, C...

Nhập vần muốn tra:
Để giới hạn kết quả tìm kiếm chính xác hơn, quý vị có thể nhập 2 hoặc 3 chữ cái đầu vần. Ví dụ, để tìm những chữ như thiền, thiện... quý vị nên nhập thi thay vì t... sẽ cho một kết quả gần với yêu cầu của quý vị hơn.

Quý vị đang truy cập từ IP 54.211.227.36 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Kinh Bảo Khiếp Ấn Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Thị Như Ngọc Rộng Mở Tâm Hồn Như Hụê Rộng Mở Tâm Hồn Pháp Tâm Rộng Mở Tâm Hồn Tâm Đăng Rộng Mở Tâm Hồn quốc bảo Rộng Mở Tâm Hồn mainguyen Rộng Mở Tâm Hồn adidaphat Rộng Mở Tâm Hồn Minh Thái Hồng Rộng Mở Tâm Hồn NGUYEN XUAN TUNG Rộng Mở Tâm Hồn Hộ Chánh Rộng Mở Tâm Hồn Vạn Phúc Rộng Mở Tâm Hồn Minh Nguyễn 2 Rộng Mở Tâm Hồn lethienchach Rộng Mở Tâm Hồn Thông Anh Cư Sỹ Rộng Mở Tâm Hồn Mật Quân Rộng Mở Tâm Hồn Quảng Chuyên Rộng Mở Tâm Hồn Thiện Hoàn Rộng Mở Tâm Hồn Đồng Sĩ Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Trí 1975 Rộng Mở Tâm Hồn pham ngoc giao Rộng Mở Tâm Hồn Vũ Hoàng Oanh Rộng Mở Tâm Hồn Vô Thường Violet Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Văn Tài Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thiên Rộng Mở Tâm Hồn Hai nguyên Rộng Mở Tâm Hồn Vu Duc Hien Rộng Mở Tâm Hồn Hoat Khong Rộng Mở Tâm Hồn Đức Minh Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Hạnh 1891 Rộng Mở Tâm Hồn TỊNH MINH Rộng Mở Tâm Hồn olalam2 Rộng Mở Tâm Hồn Thuật phạm Rộng Mở Tâm Hồn Kiến Tánh Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Chơn Rộng Mở Tâm Hồn Hoàng võ Rộng Mở Tâm Hồn Tuệ Nguyên Khoa Rộng Mở Tâm Hồn Thiện Thức Rộng Mở Tâm Hồn Thích Quảng Ba Rộng Mở Tâm Hồn Lac Dieu Chan ... ...

Hoa Kỳ (78.570 lượt xem) - Việt Nam (13.961 lượt xem) - Phần Lan (2.855 lượt xem) - Đức quốc (2.155 lượt xem) - Anh quốc (1.393 lượt xem) - Pháp quốc (922 lượt xem) - Nga (624 lượt xem) - Central African Republic (107 lượt xem) - Hà Lan (70 lượt xem) - Australia (38 lượt xem) - Tây Ban Nha (18 lượt xem) - Trung Hoa (15 lượt xem) - Senegal (13 lượt xem) - Cộng hòa Czech (13 lượt xem) - Đài Loan (11 lượt xem) - Italy (11 lượt xem) - Ấn Độ (10 lượt xem) - Singapore (7 lượt xem) - Nhật Bản (6 lượt xem) - Maldives (5 lượt xem) - Thái Lan (5 lượt xem) - Palau (4 lượt xem) - Montenegro (3 lượt xem) - Mayotte (3 lượt xem) - Luxembourg (2 lượt xem) - Burundi (2 lượt xem) - Cambodia (2 lượt xem) - Philippines (2 lượt xem) - Brazil (2 lượt xem) - South Africa (1 lượt xem) - Hong Kong (1 lượt xem) - Qatar (1 lượt xem) - Indonesia (1 lượt xem) - Benin (1 lượt xem) - Saudi Arabia (1 lượt xem) - Na-uy (1 lượt xem) - ... ...