Chỉ có một hạnh phúc duy nhất trong cuộc đời này là yêu thương và được yêu thương. (There is only one happiness in this life, to love and be loved.)George Sand

Người biết xấu hổ thì mới làm được điều lành. Kẻ không biết xấu hổ chẳng khác chi loài cầm thú.Kinh Lời dạy cuối cùng
Hãy lặng lẽ quan sát những tư tưởng và hành xử của bạn. Bạn sâu lắng hơn cái tâm thức đang suy nghĩ, bạn là sự tĩnh lặng sâu lắng hơn những ồn náo của tâm thức ấy. Bạn là tình thương và niềm vui còn chìm khuất dưới những nỗi đau. (Be the silent watcher of your thoughts and behavior. You are beneath the thinkers. You are the stillness beneath the mental noise. You are the love and joy beneath the pain.)Eckhart Tolle
Tài năng là do bẩm sinh, hãy khiêm tốn. Danh vọng là do xã hội ban cho, hãy biết ơn. Kiêu căng là do ta tự tạo, hãy cẩn thận. (Talent is God-given. Be humble. Fame is man-given. Be grateful. Conceit is self-given. Be careful.)John Wooden
Thành công không phải là chìa khóa của hạnh phúc. Hạnh phúc là chìa khóa của thành công. Nếu bạn yêu thích công việc đang làm, bạn sẽ thành công. (Success is not the key to happiness. Happiness is the key to success. If you love what you are doing, you will be successful.)Albert Schweitzer
Chúng ta có lỗi về những điều tốt mà ta đã không làm. (Every man is guilty of all the good he did not do.)Voltaire
Nếu bạn nghĩ mình làm được, bạn sẽ làm được. Nhưng nếu bạn nghĩ mình không làm được thì điều đó cũng sẽ trở thành sự thật. (If you think you can, you can. And if you think you can't, you're right.)Mary Kay Ash
Kinh nghiệm quá khứ và hy vọng tương lai là những phương tiện giúp ta sống tốt hơn, nhưng bản thân cuộc sống lại chính là hiện tại.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Nếu muốn người khác được hạnh phúc, hãy thực tập từ bi. Nếu muốn chính mình được hạnh phúc, hãy thực tập từ bi.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Chúng ta không thể giải quyết các vấn đề bất ổn của mình với cùng những suy nghĩ giống như khi ta đã tạo ra chúng. (We cannot solve our problems with the same thinking we used when we created them.)Albert Einstein
Điểm yếu nhất của chúng ta nằm ở sự bỏ cuộc. Phương cách chắc chắn nhất để đạt đến thành công là luôn cố gắng thêm một lần nữa [trước khi bỏ cuộc]. (Our greatest weakness lies in giving up. The most certain way to succeed is always to try just one more time. )Thomas A. Edison

Trang chủ »» Danh mục »» THUYẾT GIẢNG GIÁO PHÁP »» Các vị chân sư Đại thủ ấn »» Đại sư thứ 3: Virupa - Chân sư của các thiên nữ »»

Các vị chân sư Đại thủ ấn
»» Đại sư thứ 3: Virupa - Chân sư của các thiên nữ


Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục 

       

Các vị chân sư Đại thủ ấn - Đại sư thứ 3: Virupa - Chân sư của các thiên nữ

Font chữ:

Chân lý hiển nhiên thuộc về ta
Chỉ cần an trú trong thực tướng
Chẳng nghĩ, chẳng suy, chẳng nắm bắt
Chẳng phải của ta, chẳng là ta
Không cố chấp
Không cầu tỉnh giác
Chẳngphải thường hằng
Chẳng phải hằng
Giải thoát rốt ráo và viên mãn


Truyền thuyết


Ngài Virupa vốn sinh trưởng ở miền đông xứ Triputa thuộc vương quốc Bengal dưới thời vua Devapala.


Ngay từ thuở thiếu thời ngài đã qui y tu học tại tu viện Somapuri. Không lâu sau đó, ngài nằm mộng thấy Kim cương nữ Bồ Tát trao cho tâm pháp. Với lòng mong muốn mau thành tựu, ngài gia công trì tụng Kim cương chơn ngôn hai mươi triệu biến trong suốt thời gian 12 năm, nhưng ngài vẫn không thấy có dấu hiệu chứng đắc.


Một hôm, quá ư thất vọng, ngài ném xâu chuỗi vào hố xí và rủa thầm: “Mấy cái hạt vô tích sự này, chẳng liên quan gì đến niềm an lạc của ta.”


Tuy nhiên, vào một đêm trong khi đang hành trì công phu, sự bừng ngộ xảy ra trong tâm thức, ngài chợt nhớ đến xâu chuỗi đã mất. Tức thì Kim cương nữ Bồ Tát hiện ra trao lại cho ngài xâu chuỗi và dạy rằng: “Ngươi chớ phiền não. Ta sẽ luôn ở bên ngươi để hộ trì. Hãy loại bỏ các kiến chấp phiền não mà gắng công tu tập.”


Sau đó, ngài Virupa tu tập Kim cương tâm pháp thêm mười hai năm nữa thì ngài thấu triệt đệ nhất nghĩa đế, và kể từ ấy ngài vượt thoát ra ngoài vòng sinh tử.


Mặc dù vậy, Virupa là người vốn quen rượu thịt. Hằng ngày, người hầu thường đi ra ngoài kiếm rượu thịt để dâng cho ngài. Cho đến một hôm người hầu lén bắt trộm những con chim câu của tu viện làm thịt.


Thấy bỗng dưng mất những con chim câu, vị giám viện rung chuông họp tăng chúng lại tra hỏi: “Ai trong các người đã ăn thịt những con chim câu của tu viện? ”


Chúng tăng đồng thanh đáp: “Bạch thầy, việc này vốn chưa từng xảy ra. Có điều chắc chắn là không ai trong chúng tôi lại có thể sát hại những con chim câu ấy.”


Chợt một vị tăng nhìn vào cửa sổ phòng của Virupa, thấy ngài đang dùng thịt chim câu với rượu.


Lập tức Virupa bị trục xuất ra khỏi tu viện.


Gửi lại chiếc bình bát nơi bàn thờ, Virupa đảnh lễ lần cuối cùng trước tượng đức Thế Tôn, bậc Đạo Sư mà ngài đã thờ phụng hơn 24 năm qua, rồi ra đi.


Lúc rời cổng tu viện, một ông tăng chận lại hỏi: “Thầy sẽ đi về đâu? ”


Ngài đáp: “Ta đi theo con đường của riêng ta.”


Gần tu viện Somapuri có một hồ sen lớn, quanh năm phủ đầy lá. Khi đến gần hồ, Virupa liền ướm thử chân trên một lá sen để xem nó có chìm không. Đoạn ngài niệm danh hiệu Phật, rồi bước thoăn thoát trên những cánh sen để đi qua bên kia bờ hồ.
Chứng kiến cảnh Virupa hiển lộ thần thông như thế, chúng tăng đều kinh hoàng, lòng tràn đầy hối hận.


Họ tiến lại gần, năm vóc sát đất, đảnh lễ và sờ vào chân ngài với niềm cung kính vô biên: “Ngài thật có pháp lực vô biên. Cớ sao lại nhẫn tâm giết hại những con chim câu của chúng tôi? ”
Virupa mỉm cười đáp: “Những gì các ông thấy biết cũng chỉ là ảo ảnh, giống như các hiện tượng thông thường khác trong thế gian mà thôi.”


Nói xong, sư sai người hầu mang lại những mẩu xương, thịt vụn của chim, bỏ vào lòng bàn tay trái đưa lên cao, tay phải khẻ khảy móng mấy cái.


Những con chim câu liền sống lại và bay đi, trông chúng to đẹp và khoẻ hơn trước.


Từ bỏ lối sống của một nhà sư trong tu viện Somapuri, Virupa trở thành một nhà Du-già khất thực. Lang thang đến bờ sông Hằng, ngài xin vị nữ thần sông này một ít vật thực, nhưng vị nữ thần này tỏ ra kiêu kỳ từ chối khiến sư nổi giận, rống lên một tiếng rồi tách nước sông làm đôi để đi qua.


Ngài đi mãi đến thị trấn Kanasata. Tại đây ngài ghé lại một tửu quán để dùng cơm và uống rượu. Cơm trắng và rượu nồng là hai thứ mà ngài ưa thích nhất.


Thấy Virupa uống rượu liên miên, chủ quán có ý định đòi tiền trước. Virupa cười bảo: “Ta sẽ ra đi khi trời tối. Lúc ấy trả tiền cũng không muộn.”


Nói xong, tay trái ngài cầm dao quắm chỉ thẳng vào mặt trời, dùng phép “định thân” chặn đứng mặt trời, chia bầu trời làm thành hai phần: một bên tối và một bên sáng. Cứ như thế trải qua suốt mấy ngày, ngài tiếp tục uống và dùng lửa tam muội thiêu đốt năm trăm ngàn quỷ thần trong vùng, khiến cho hạn hán xảy ra trong vùng.


Đức vua xứ Kanasata lấy làm kinh hoàng về việc lạ chưa từng có ở đất nước của ngài nhưng không rõ duyên do gì. Cả triều đình cũng bó tay không biết tai họa từ đâu mà đến.


Cuối cùng, nữ thần Mặt Trời hiện ra báo cho nhà vua biết, sở dĩ có việc lạ như thế là do một hành giả Du-già nợ tiền cơm, rượu, và làm cho chính vị nữ thần này cũng đang phải khốn đốn.
Nhà vua bèn sai người đến trả tiền cho chủ quán. Virupa biến mất.


Ít lâu sau, Virupa du hành đến Indra. Đây là vùng đất có nhiều tín đồ Bà-la-môn rất cuồng tín. Virupa tình cờ đi ngang qua một tượng thần Siva bằng đá cao đến hơn 20 mét. Những tín đồ Bà-la-môn đang canh giữ tượng thần buộc ngài phải vái chào thánh tượng Śiva. Ngài chối từ, hỏi rằng: “Bậc trưởng thượng mà phải vái chào kẻ dưới hay sao? ”


Vua xứ Indra cũng có mặt ở đó, bèn lên tiếng bênh vực cho các đạo sĩ Bà-la-môn. Nhà vua phán: “Nếu ngươi không vái chào thánh tượng, ngươi sẽ phải tội chết.”


Ngài nói: “Nhưng nếu ta đảnh lễ vị thần này, ta sẽ mắc tội lớn hơn tội chết.”


Vua đáp: “Ngươi cứ làm. Hãy để tội ấy trẫm gánh chịu.”


Virupa liền chắp tay cung kính. Tức thì, tượng thần Siva nứt đôi, một giọng nói rền vang như sấm sét từ cõi trời vọng xuống: “Đệ tử có mặt! Bạch thầy có điều gì dạy bảo? ”


Ngài Virupa nói: “Nay ta qui y cho ngươi. Hãy phát nguyện hộ trì chánh pháp.”


Thần Siva hiện ra, phát nguyện đúng theo lời dạy. Rồi tượng đá khép lại nguyên vẹn như cũ.


Từ Indra, Virupa lại vân du đến Devikota thuộc miền Đông Ấn. Hầu hết cư dân vùng này đều là phù thủy ăn thịt người, uống máu nóng. Họ thường rình rập bỏ bùa mê các khách bộ hành tình cờ qua lại vùng này để bắt đem về tế lễ.


Một ngày nọ Virupa cùng một thiếu niên đi vào vùng này. Cả hai dừng chân ở một ngôi đền thờ cuối làng để nghỉ qua đêm. Trong cuộc tương ngộ này, Virupa có ban cho chú bé một câu thần chú để hộ thân. Cả hai lăn ra ngủ vùi vì quá mệt mõi sau chặng đường dài.


Lúc ấy, bọn phù thủy đang tụ tập để tế lễ. Họ đã có thịt thú vật nhưng còn thiếu máu người để cử hành đúng nghi thửc của cuộc tế. Gã phù thủy cầm đầu đã bỏ bùa Virupa và cậu bé vào buổi sáng, bèn sai thuộc hạ đến ngôi đền để bắt hai nạn nhân của chúng.


Nhờ mật chú hộ thân, cơ thể của cậu bé như dính chặt xuống mặt đất khiến bọn phù thủy dùng hết sức cũng không tài nào nhấc lên nổi. Chúng đành khiêng một mình Virupa đang còn say ngủ về nơi ở của chúng.


Bọn phù thủy tưới rượu lên khắp thân hình của Virupa, tay cầm dao, miệng cười rú lên một cách ma quái. Tiếng cười mỗi lúc một lớn, nhưng khi chúng chưa dứt tiếng cười, Virupa liền ngồi choàng dậy cất tiếng cười. Lần này, tiếng cười của Virupa to hơn gấp ngàn lần tiếng cười của bọn phù thủy, âm thanh chấn động đến tam thiên đại thiên thế giới, khiến bọn chúng mất hết ý thức.


So với tiếng cười của Virupa, tiếng cười của bọn phù thủy chỉ như tiếng khóc của trẻ sơ sinh.


Quá kinh sợ, bọn phù thủy khẩn nài xin ngài tha tội. Sau khi dùng thần lực nhiếp phục bọn phù thủy, Virupa làm lễ qui y cho chúng. Ngài dạy: “Nếu các ngươi một lòng chí tín, quy ngưỡng Tam bảo thì ta luôn kề cận các ngươi để hộ trì, tránh khỏi mọi sự tổn hại. Ngày ngày các ngươi phải chuyên cần tu tập hạnh Bồ Tát. Nếu các ngươi giải đãi, tự thân sẽ bị mất đi một cốc máu. Và nếu các ngươi quay lưng lại với chánh pháp mà trở về với loài quỷ thần thì chiếc đĩa này sẽ chém lìa đầu các ngươi. Lúc bấy giờ, Bắc Phương Quỷ Vương sẽ đến hút cạn máu của các ngươi.”


Bọn phù thủy nhất mực vâng lời dạy của ngài Virupa.
Tương truyền, ngày nay người ta vẫn còn thấy hình dáng chiếc đĩa này và Bắc Phương Quỷ Vương trong dãi Ngân hà.
Sau khi nhiếp phục bọn phù thủy, Virupa lại vân du sang xứ khác.


Ít lâu sau, ngài lại trở về viếng thăm vùng Dekikotta. Lúc bấy giờ, vị Đại Phạm Thiên và thị giả của ngài là Umadevi dùng thần thông tạo ra một thành phố gồm bốn triệu cư dân để tôn vinh và thờ phụng ngài.


Tất cả vật thực dành cho buổi lễ cung nghinh ngài Virupa trở lại Dekikotta được chư thiên mang đến từ 33 cõi trời trong Dục giới.


Có truyền thuyết nói rằng ngài thọ đến 700 tuổi mới viên tịch.


Hành trì


Chướng ngại của Virupa cũng chính là phiền não của các hành giả Mật tông lúc còn sơ cơ. Trở lực ấy có lẽ do ngài quá đem tâm dục cầu khiến sắc ý bột phát trong giai đoạn tu định và cũng bởi kiến chấp ấy của ngài (preconception) đối với chân tính (nature of reality).


Kim Cương Thánh Nữ hiện ra như một thực thể nội tại vô biên đã phá vỡ cái vòng luẩn quẩn mà Virupa bị kẹt trong đó suốt 12 năm và giải thoát ngài ra khỏi sự bế tắc của tâm thức.
Không dựa vào sự vật bên ngoài, vất bỏ xâu chuỗi để đi vào bản tâm, đó là nhận thức đầy tính dứt khoát của Virupa.


Trong kinh dạy rằng: Bản tâm thanh tịnh thì gọi đó là hạt châu như ý. Bản tâm vốn là không, các pháp lưu xuất thành niệm là do có các căn. Trong khi thiền định, thường thì các kiến chấp sẽ tạo nên vọng tưởng rồi biến thành phiền não.


Sử liệu


Nơi ngài Virupa trải qua 12 năm tu học chính là đại tu viện Somapuri, một trong những tu viện lớn nhất ở vùng Đông Ấn, được xây dựng dưới triều đại Pala (gồm xứ BengalBihar). Các vua thuộc triều đại này vốn là những đại thí chủ của Mật tông.


Nhà sư học giả Taranatha cho rằng vua Devapala (810-840) đã xây dựng tu viện này, nhưng có lẽ nó đã được tạo dựng trước đó nhiều năm do công của vua Dhamlapaka (770-810), một nhân vật sống cùng thời với Virupa.


Đến nay, người ta vẫn chưa xác định được vị trí chính xác của tu viện này, nhưng có thể đó là khu vực OmpurBengal.
Có một điều đáng nói là thanh qui chi phối tăng chúng ở đây đã được sư Santaraksita truyền sang Tây Tạng và vẫn còn được áp dụng cho đến bây giờ.


Tripura, sinh quán của ngài, gồm những khu vực khác nhau như Radhakisorapura, Assam Devikotta. Các địa danh này cũng là tên của các đền thờ Mẫu thần (Sakta) toạ lạc trong những khu rừng sâu khó vào được. Nơi đó, các bộ tộc theo giáo pháp Đại Mẫu có tập tục tế người như theo chuyện kể ở KamarupaVirupa đã cải đạo cho các bộ lạc này.


Từ “witch” theo Tạng ngữ là Phra Men (vetala), đó là một loại ma tử thi chuyên ăn thịt người để hoàn sinh (a resurrected flesh-eating corpse), nhưng theo kinh văn Tây Tạng thì đây là những nữ phù thủy bậc thấp chuyên về ma thuật và sử dụng linh phù.


Có một mẩu chuyện khác kể rằng Virupa được các thiên nữ (dakini) dâng cúng hoa sen và ốc tiên (hai biểu tượng của âm dương).


Với sự giúp đỡ của một Phật tử, Virupa đến được núi Sri Parvata. Tại đây, ngài A-xà-lê Long Trí Bồ Tát đã truyền thụ cho ngài các pháp thuật của Trời Dạ Ma (Yama). Với các pháp thuật này, Virupa quay lại Devikotta hàng phục các phù thủy và khiến họ qui y Tam bảo.


Lại có thuyết nói rằng Virupa là người lập ra pháp môn Rakta Yamari Tantra và một số các phương pháp thiền định đó liên quan đến bộ môn Tantra này.


Xét theo cung cách mà Virupa cải đạo cho dân chúng vùng Devikotta cũng như cách hàng phục Trời Đại Phạm Thiên ở Indra, chúng ta liên tưởng đến vị đạo sư Mật tông Liên Hoa Sanh, một nhân vật cùng thời với ngài, cũng đã dùng những phương cách tương tự để nhiếp phục và cải đạo cho những người theo đạo Bôn ở Tây Tạng. Theo kinh văn của dòng tu Yogini Candika (the Mystic Heat) thì ngài Virupa chính là nhà sư Sridramapala, và Nalanda là tu viện mà Virupa có lần đến tu học và sau đó bị trục xuất. Orissa chính là nơi ngài thi triển tửu lượng.


Ngoài ra, có một điểm phù hợp với câu chuyện thần Siva nứt ra khi Virupa chắp tay tại Somanath, vì tại Samrastra có một tượng đá của Đại Phạm Thiên (Mahadeva). Bức tượng đá khổng lồ rất nổi tiếng này bị quân Hồi giáo phá huỷ vào năm 1015.

    « Xem chương trước «      « Sách này có 86 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này

Lượt xem: 1.210  

Quý vị đang truy cập từ IP 54.166.153.192 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Ơn Từ Mẫu Rộng Mở Tâm Hồn Tánh Không Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Thanh HN Rộng Mở Tâm Hồn Hai Hoang Rộng Mở Tâm Hồn Sương Rộng Mở Tâm Hồn Thiên Xích Rộng Mở Tâm Hồn Thương Huyền 1712 Rộng Mở Tâm Hồn Minh Thái Hồng Rộng Mở Tâm Hồn hanhnguyen Rộng Mở Tâm Hồn hatran Rộng Mở Tâm Hồn phattran Rộng Mở Tâm Hồn Thích Đạo Nguyện Rộng Mở Tâm Hồn Huynhvietbang Rộng Mở Tâm Hồn tanbui Rộng Mở Tâm Hồn Bíchcâu Rộng Mở Tâm Hồn Thanh Duc Rộng Mở Tâm Hồn Phan Huy Triều Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Quốc Thắng Rộng Mở Tâm Hồn Kim Thoa Rộng Mở Tâm Hồn Lữ Du Rộng Mở Tâm Hồn tungnguyen Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Cát Rộng Mở Tâm Hồn kimoanh Rộng Mở Tâm Hồn THONG PHUOC Rộng Mở Tâm Hồn Mai Long Bs Rộng Mở Tâm Hồn The Hung Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Hương Trang Rộng Mở Tâm Hồn Beajimin Jp Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Đông Rộng Mở Tâm Hồn Cừ hương Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Văn Tài Rộng Mở Tâm Hồn Khiết Long Rộng Mở Tâm Hồn dtran Rộng Mở Tâm Hồn Tuyet Suong Rộng Mở Tâm Hồn MkBin Rộng Mở Tâm Hồn Mai Hồng Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Sơn Rộng Mở Tâm Hồn nvnghia Rộng Mở Tâm Hồn The end Rộng Mở Tâm Hồn thuonghylenien ... ...

Việt Nam (759.639 lượt xem) - Hoa Kỳ (10.344 lượt xem) - Đức quốc (1.214 lượt xem) - Pháp quốc (259 lượt xem) - New Zealand (Aotearoa) (64 lượt xem) - Anh quốc (20 lượt xem) - Nga (16 lượt xem) - Trung Hoa (13 lượt xem) - Australia (11 lượt xem) - Ấn Độ (6 lượt xem) - Nhật Bản (4 lượt xem) - Central African Republic (4 lượt xem) - Đài Loan (3 lượt xem) - Benin (3 lượt xem) - Thái Lan (2 lượt xem) - Na-uy (1 lượt xem) - South Africa (1 lượt xem) - Hong Kong (1 lượt xem) - ... ...