Chim Việt Cành Nam            [  Trở Về  ]          [ Trang chủ ]           [  Tác giả ]

Người Đẹp Tàn Nhẫn
La Belle Dame sans Merci - John Keats

Sóng Việt 

La Belle Dame sans Mercy (Người Đẹp Tàn Nhẫn) nguyên thủy là tên một trường ca viết năm 1424 của nhà thơ Pháp Alain Chartier (1385-1433). La Belle Dame sans Mercy với nhiều bản chép khác nhau nhưng tựu chung kể chuyện một tình nhân đau khổ và người đẹp tàn nhẫn có trái tim cứng rắn hơn cẩm thạch.

Vào cuối tháng Tư, 1819, nhà thơ Anh thuộc trường phái lãng mạn John Keats đã viết một bài thơ thể điệu dân giả mang tên La Belle Dame sans Merci (bài thơ nguyên tác của Alain Chartier mang đề tựa La Belle Dame sans Mercy) với nội dung khác biệt, gồm 12 đoạn thơ, mỗi đoạn gồm 4 dòng.

Bài thơ kể lại cuộc gặp gỡ giữa một chàng hiệp sĩ với một người đẹp. Một hôm, khi lang thang trên đồng vắng chàng gặp một người thiếu nữ có ánh mắt hoang dại. Nàng dẫn chàng đi vào động tiên. Họ đã có một ngày hạnh phúc chứa chan. Rồi nàng ru chàng hiệp sĩ đi vào giấc ngủ. Khi tỉnh giấc, thì chàng hiệp sĩ thấy mình đơn độc trên đồi lạnh. Và sau đó chàng cứ lang thang vùng đồng vắng đã gặp người đàn bà đẹp để cố tìm lại bóng hình cố nhân (1), (2). Bài thơ được viết dưới dạng kể chuyện chàng hiệp sĩ trả lời câu hỏi của người kể chuyện.

Bài thơ La Belle Dame sans Merci của John Keats sau đó đuợc chuyển tiếp sang hội họa, và cả âm nhạc, Người đẹp trong bài thơ này trở thành đối tượng trong tác phẩm của một số họa sĩ theo trường phái hội họa thời trước Raphael ở Italy như: John William Waterhouse, Arthur Hughes, Walter Crane, Thomas Francis Dicksee, Frank Cadogan Cowper, v.v...

 

La Belle Dame sans Merci

Nguyên tác

La Belle Dame sans Merci, 1819

Oh what can ail thee, knight-at-arms,
    Alone and palely loitering?
The sedge has withered from the lake,
    And no birds sing.

*

Oh what can ail thee, knight-at-arms,
    So haggard and so woe-begone?
The squirrel's granary is full,
    And the harvest's done.

*

I see a lily on thy brow,
    With anguish moist and fever-dew,
And on thy cheeks a fading rose
    Fast withereth too.

*

I met a lady in the meads,
    Full beautiful - a faery's child,
Her hair was long, her foot was light,
    And her eyes were wild.

*

I made a garland for her head,
    And bracelets too, and fragrant zone;
She looked at me as she did love,
    And made sweet moan.

*

I set her on my pacing steed,
    And nothing else saw all day long,
For sidelong would she bend, and sing
    A faery's song.

*

She found me roots of relish sweet,
    And honey wild, and manna-dew,
And sure in language strange she said -
    'I love thee true'.

*

She took me to her elfin grot,
    And there she wept and sighed full sore,
And there I shut her wild wild eyes
   With kisses four.

*

And there she lulled me asleep
    And there I dreamed - Ah! woe betide! -
The latest dream I ever dreamt
    On the cold hill side.

*

I saw pale kings and princes too,
    Pale warriors, death-pale were they all;
They cried - 'La Belle Dame sans Merci
    Hath thee in thrall!'

*

I saw their starved lips in the gloam,
    With horrid warning gaped wide,
And I awoke and found me here,
    On the cold hill's side.

*

And this is why I sojourn here
    Alone and palely loitering,
Though the sedge is withered from the lake,
    And no birds sing.



Bản đầu tiên được Keats sáng tác ngày 21 tháng 4 năm 1819. Bản hiệu đính theo đề nghị của Leight Hunt ra mắt trong The Indicator, ngày 10 tháng 5 năm 1820. (3)
 

Người Đẹp Tàn Nhẫn
1
Hỡi chàng hiệp sĩ có điều chi xẩy đến
Mà một mình lang thang buồn bã xanh xao
Cỏ lác đã héo úa bên hồ kề cạnh
Chẳng có tiếng chim ca hát trên cao
2
Hỡi chàng hiệp sĩ có điều chi xẩy đến
Mà quá hốc hác như kẻ nặng sầu đau
Tổ chú sóc cho mùa đông đã đầy ắp
Và mùa gặt hái cũng đà hết từ lâu
3
Ta thấy người vầng trán xanh như huệ
Với khổ đau và sương rịn đầm đìa
Sắc diện mặt mất màu hồng đôi má
Coi sao nhợt nhạt héo úa thế kìa
4
Tôi đã gặp trên đồng một nàng đài các
Đẹp vô cùng, một tiên nữ diễm kiều
Tóc như suối gót hài nàng bước nhẹ
Và đôi mắt thật hoang dại thần kỳ
5
Tôi kết vòng hoa đặt lên đầu nàng đôi
Tròng cổ tay và quàng cả vòng eo
Nàng nhìn tôi như thể đà yêu đậm
Rên rỉ dễ thương lời thật ngọt ngào
6
Tôi bế đặt nàng lên yên chiến mã
Và cả ngày nào có thấy chi đâu
Suốt lô trình nàng nghiêng đầu hát nhẹ
Bài ca thần tiên êm ái tràn đầy
7
Nàng cho tôi cội nguồn hương dịu ngọt
Và mật hoang, thực phẩm thật lạ kỳ
Với ngôn ngữ lạ lùng nàng đã thốt
-"Yêu anh em thật sự yêu anh rồi".
8
Nàng dẫn tôi vào hang động ái ân
Nghe tiếng nàng thổn thức rên đớn đau
Và tôi khép đôi mắt nàng hoang dại
Bằng nụ hôn bằng những nụ hôn dài.
9
Cũng nơi đó nàng ru tôi vào giấc ngủ
Và tôi đi vào mộng - Than ôi! chuyện xẩy ra!
Giấc mơ cuối cùng mà tôi đã từng mộng
Một mình tôi đang lạnh lẽo trên sườn đồi
10
Tôi thấy vua, thấy hoàng tử xanh mét
Tất cả đều nhợt nhạt như nhau
Họ hò hét - "Người đẹp không thương người
Tàn nhẫn bỏ mi làm nô lệ."
11
Trong choạng vạng tôi thấy bờ môi đói
Miệng mở lớn thật khiếp đảm kêu gào
Và chợt tỉnh để thấy mình đơn độc
Một mình tôi đang lạnh lẽo trên sườn đồi
12
Vì thế đấy nên tôi còn lưu lại
Lảng vảng đây mình ủ rũ xanh xao
Dù cỏ lác bên hồ đà héo úa
Và cũng chẳng nghe tiếng chim hót trên cao.

Sóng Việt phỏng dịch

Bàn luận

Sau đây là vài hàng chủ quan bàn về nội dung bài thơ. Sự phân tích tâm lý bài thơ không nằm trong khuôn khổ bài viết này.

Người đọc thấy chàng hiệp sĩ đang cô đơn buồn bã trong cảnh vật tiêu điều, nhà thơ kể cho độc giả thấy cỏ úa, hồ khô cạn nước, và không có chim ca hát (chẳng có vật sống). Tuy cảnh vật tiêu điều nhưng chàng hiệp sĩ vẫn muốn ở đó. Ta có thể hình dung là chàng hiệp sĩ ở đó vì có một sự kiện nào đó đã xẩy ra, và vì thế mà chang lang thang đến nơi này để thoát ra khỏi cái cuộc sống thực tế não nề đau khổ và thay vào đó là một thế giới hoang đuờng đẹp đẽ hơn. Bởi cốt tránh cái thực tại chán chường, chàng đã dùng óc tưởng tượng của mình để tạo nên một thế giới mà sự ao uớc ham muốn của chàng có thể thực hiện đuợc. Chàng tưởng tượng chàng có một tình yêu với một người đàn bà đẹp, một người cho chàng cái cảm giác được ham muốn và hãnh diện. Trong thế giới thật chàng hiệp sĩ xanh xao xanh xao ốm yếu, nhưng trong thế giới ảo khi chàng gặp người đàn bà đẹp thì chàng trở nên một người có sức mạnh và chủ động như kể lại bằng một giọng hùng hồn là đặt nàng lên yên ngựa, lắng nghe nàng hát. Người đẹp đã làm chàng quên trạng thái cô đơn và cho chàng tình yêu chàng khao khát đón chờ. Chàng làm vòng hoa cài đầu, vòng tay và trên thân nàng nữa. Chàng cho ta cái ý nghĩ mơ hồ đây là một thế giới nào đó, một thế giới ảo tưởng. Chàng miêu tả người đẹp như là một nàng tiên, cho người đọc cái cảm tưởng nàng không thuộc về thế giới trần tục vì nàng có cái nhìn hoang dại, có ngôn ngữ lạ kỳ.

Một thế giới liêu trai huyền bí chăng? Đúng thế: một người đẹp như tiên chợt đến khiến chàng hiệp sĩ can đảm tiến tới bước đầu. Nhưng rồi chàng không chủ động được nữa mà dần dần trở nên lệ thuộc vào hành động của nàng. Hãy nghe chàng hiệp sĩ kể: nàng dẫn chàng vào hang động ái ân, cho chàng tuyệt đỉnh đam mê làm nàng rên rỉ thổn thức, rồi nàng vỗ về chàng vào giấc ngủ và rồi chàng thiếp vào cơn mộng. Trong cơn mộng, chàng thấy những người hoàng tộc có những cặp môi đói, há hốc gào thét cảnh báo cho chàng biết nàng là một người không biết thương tiếc ai sẽ rời bỏ chàng, biến chàng thành nô lệ trong tư tưởng. Thức giấc chàng hiệp sĩ như trở lại thực tế, một thực tế phũ phàng khiến chàng nghĩ đến thân phận mình và nhận thức mình đã sống trong thế giới ảo tưởng. Nhưng tại sao chàng không rời bỏ ảo tưởng mà trở về thực tế được? Phải chăng chàng vẫn khao khát được trở lại với cơn mộng và hưởng được cảm giác sung sướng đã một lần trải qua? Vẫn buồn bã đấy nhưng chàng vẫn mang hy vọng và không muốn rời bỏ nơi hoang vu thiếu sự sống này. Câu trả lời của chàng hiệp sĩ mang lại cho độc giả sự suy nghĩ và kết luận tùy thuộc vào cảm nhận của từng cá nhân.

John Keats

Vài hàng tiểu sử (4)

John Keats (31 October 1795 - 23 February 1821) - nhà thơ Anh, người cùng thời với Shelley, Byron, một trong những thi sĩ tiêu biểu của trường phái lãng mạn Anh thế kỷ XIX.
John Keats sinh ở Moorgate, London, là con trai lớn của Thomas Keats và Frances Jennings Keats, thuộc gia đình khá giả.

Năm 1804 bố mất, mẹ đi lấy chồng khác ngay sau đó nên các con ở với bà ngoại. Năm 1810 mẹ chết vì bệnh lao phổi.

Từ năm 1803-1811 Keats học ở trường tư, năm 1811 học ngành y ở King's College London. Thời gian này Keats đã rất thích thơ ca, nên dù tốt nghiệp ngành y nhưng Keats lại theo đuổi sự nghiệp thi ca. Năm 1817 Keats cho in tập thơ "Poems", năm sau in tiếp trường ca "Endymion". Bài thơ La Belle Dame sans Merci làm năm 1819.Năm 1820 Keats in tập thơ cuối cùng.

Keats mất ở Italy vì bệnh lao phổi vào ngày 23 tháng Hai năm 1921. Ông được mai táng tại nghĩa trang Tin lành ở Rome (Protestant Cemetery, Rome); trên mộ không đề tên mà chỉ đề dòng chữ: "Nằm đây, Tên của một người đuợc viết trong nước" (Here lies One / Whose Name was writ in Water).

Cuộc đời của Keats thật ngắn ngủi nhưng Keats đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị.

Những tác phẩm nổi tiếng của John Keats gồm Endymion , Hyperion , St. agnes Eve , Ode to a Grecian urn , Ode to a nightingale, On Melancholy , O?? autumn , Isabella.

Như đã viết ở trên, bài thơ La Belle Dame sans Merci của Jonh Keats đã gợi hứng cho nhiều bức họa thực hiện vào thời tiền Raphael ở Italy, trong bài viết này có tranh của 5 họa sĩ:
John William Waterhouse (1849-1917)
Arthur Hughes (1832-1915)
Walter Crane (1845-1915)
Thomas Francis Dicksee (1819- 1895)
Frank Cadogan Cowper (1877-1958)
 
 

J.W. Waterhouse (I)
A. Hughes (II)
W. Crane (III)
T.F. Dicksee (IV)
F.C. Cowper (V)

Bức họa của JJ Waterhouse có lẽ miêu tả giai đoạn khởi đầu khi chàng hiệp sĩ vừa gặp người đẹp. (I)

Tranh của A. Hughes, W.Crane, và T.F. Dicksee cho thấy chàng hiệp sĩ dẫn nàng thong dong trên đường tới nơi người đẹp trú ẩn. (II, III, IV)

Và cuối cùng tranh của F.C. Cowper (V) miêu tả chàng hiệp sĩ đang ngủ mê man sau khi có một ngày tràn đầy hạnh phúc (ghi chú: hình này cho thấy một hiệp sĩ mặc nguyên bộ áo giáp năm ngủ khiến ta tự hỏi dưới mắt họa sĩ phải chăng đây một hoang đường trong giấc ngủ chăng?). (5)

Tưởng cũng nên nhắc lại một cách rất tóm tắt là từ thế kỷ thứ 12, hiệp sĩ là chức tước đuợc vua chúa trị vì quốc gia của họ phong cho người hoặc quyền quý hoặc có công lao với sứ sở của họ.

Sóng Việt
24 May 2010