Nhấn Enter để tìm



Hãy giúp chúng tôi
duy trì và phát triển.
Một người hỗ trợ, muôn người lợi ích.




TỪ ĐIỂN ĐẠO UYỂN - Chân Nguyên biên soạn

Lời nói đầu cho lần xuất bản năm 1999


 
Đức Phật và giáo pháp của Ngài đã xuất hiện hơn 2500 năm, những lời dạy ngàn vàng của Ngài đã là niềm an ủi cho rất nhiều người. Đứng trên ngưỡng cửa của năm 2000 – một thiên niên kỉ mới, chúng tôi tự đặt câu hỏi cho mình, liệu Phật pháp còn đủ năng lực để vượt qua những thử thách, những vấn đề mà thời đại chúng ta đưa ra hay không? Mặc dù con người đã đạt rất nhiều thành tích trong lĩnh vực khoa học, đời sống hằng ngày đã rất nhiều biến đổi so với thời xưa, nhưng các câu hỏi chính của cuộc đời mà mỗi người chúng ta đến một lúc nào đó sẽ phải tự đặt ra cho chính mình vẫn chưa được giải đáp thích đáng. Cách đặt câu hỏi có thể khác nhau nhưng nội dung của chúng lại không khác, chúng tôi tạm nêu ba câu hỏi tiêu biểu cho tất cả những câu hỏi khác về cuộc đời là »Ta là ai? Từ đâu đến và sẽ đi về đâu?«

Trong thời gian biên soạn quyển sách này – hay đúng hơn – khi bắt đầu đặt bút viết thì chúng tôi tự tin là đã tìm được cho chính mình lời giải đáp cho những vấn đề nêu trên. Mặc dù giữa đức Phật và chúng ta cách nhau một khoảng thời gian đáng kể, nhưng những bài thuyết pháp của Ngài về những thắc mắc, khổ lòng của con người, của một kiếp người vẫn còn giá trị như thuở nào. Ba chân lí của Ngài nhằm chỉ đặc tính của cuộc sống vẫn không hề mất giá trị, đó là tất cả các sự vật hiện hữu đều vô thường, vô ngã và vì thế chúng gây khổ.

Từ sau khi Phật nhập Niết-bàn đến nay đã có vô số người nương vào đạo của Ngài mà tìm được câu trả lời cho cuộc sống. Các vị này cũng đã lập lên những tông phái khác nhau, đóng góp rất nhiều trong việc tạo một nền tảng vững chắc, một hệ thống triết lí, tâm lí tuyệt đỉnh, đầy sức sống để giáo lí của Ngài được truyền đến ngày nay. Mỗi tông phái Phật giáo đều mang một sắc thái riêng biệt nhưng cái cốt tuỷ của chúng thì vẫn là một, ví như những mặt khác nhau của một hạt minh châu. Trong quyển sách nhỏ này, chúng tôi cố gắng diễn tả những khía cạnh đó bắt đầu từ nguồn gốc Ấn Độ cho đến lúc chia thành những trường phái ở các nước như Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật, Việt Nam v.v…

Thật sự mà nói thì chúng tôi chỉ là những cư sĩ mộ đạo, không dám tự xưng là đã nắm vững lí thuyết Phật pháp. Nhưng cái may mắn, cái »duyên« của chúng tôi là có nhiều cơ hội nghiên cứu sách vở, kinh điển của nhà Phật bằng nhiều thứ tiếng – có thể tự gọi là »con mọt sách« với những giới hạn tự nhiên của nó vậy. Bước khởi đầu của chúng tôi là một quyển sách giới thiệu Phật giáo bằng Đức ngữ – với tựa là Lebendiger Buddhismus im Abendland của Lạt-ma Gô-vin-đa (dịch phóng là Phật pháp sinh động tại Tây phương). Nó mang lại cho chúng tôi một cảm giác sung sướng, an tâm, ví như một người nào đó tìm lại được báu vật đã đánh mất từ bao giờ, một cảm giác rất mới mẻ »mình cũng có thể nhìn cuộc đời với một cặp mắt khác hẳn xưa nay«. Sau đó chúng tôi bắt đầu thu thập tất cả những tài liệu mà sách trích dẫn, nghiền ngẫm ngày này qua ngày nọ và cuối cùng, những tài liệu đó đã đạt một số lượng đáng kể.

Ban đầu, chúng tôi chỉ muốn học hỏi cho chính mình nên không có ý định ra một quyển sách, hoặc biên soạn bất cứ cái gì vì quan niệm rằng, tất cả những gì đáng nói đều đã được nói, đáng viết đều đã được viết. Dạng sơ khởi của quyển sách này chỉ là vài trang mà chúng tôi dành để dịch tên của các bộ kinh và một vài danh từ quan trọng để có thể trao đổi với các đạo hữu khác. Dần dần, các tài liệu thu thập này vọt lên một cách bất ngờ và khi cầm một quyển từ điển viết bằng Đức ngữ trên tay với tên »Lexikon der Östlichen Weisheitslehren« (Từ điển minh triết phương Đông) nói về »Bốn trụ chống trời« của Á châu là Phật, Ấn Độ (hinduism), Lão và Khổng giáo – được trình bày rõ ràng, có khoa học, dễ hiểu – quyết định của chúng tôi đã rõ, và kết quả là quyển sách quý độc giả đang cầm trên tay.

Chúng tôi lấy phần Phật giáo trong quyển tự điển nói trên làm sườn và bổ sung thêm nhiều chi tiết. Hai khía cạnh của đạo Phật được để ý đến nhiều hơn hết trong quyển sách này là triết và tâm lí học. Như quý vị sẽ thấy, nó không phải là một quyển từ điển thuần tuý vì nó không chú ý đến tất cả những thuật ngữ đạo Phật, nhưng mỗi thuật ngữ trong đây đều được trình bày, giảng nghĩa cặn kẽ hơn trong một quyển từ điển bình thường. Nếu độc giả theo các mũi tên hướng dẫn mà tìm những chữ liên hệ thì sau đó sẽ thấy là hầu hết tất cả những thuật ngữ quan trọng tạo nền tảng của đạo Phật đều được trình bày, giải thích trong một phạm vi nhất định.

Mật giáo giữ một phần đáng kể trong sách này vì như chúng tôi thấy, Kim cương thừa (vajra­yāna) của Tây Tạng – toà nhà tâm lí học vĩ đại của đạo Phật – vẫn chưa thoát khỏi tấm màn huyền bí, vẫn còn mờ ảo đối với Phật tử tại Việt Nam, đôi lúc còn bị hiểu lầm. Trong phạm vi những gì trình bày được và được phép trình bày, chúng tôi cố gắng giảng nghĩa một cách dễ hiểu những thuật ngữ thường được sử dụng trong các trường phái thuộc Mật giáo. Đại diện cho Kim cương thừa ở đây là Phật giáo Tây Tạng và thời cuối của Đại thừa Ấn Độ, biểu hiện qua hình ảnh của 84 vị Đại thành tựu giả (ma­hāsiddha).

Về Thiền tông thì chúng tôi biên soạn một cách tổng quát về Ngũ gia thất tông tại Trung Quốc, các Đại Thiền sư Nhật Bản và Việt Nam với hệ thống truyền thừa mạch lạc. Nhân đây chúng tôi phải nhắc đến Hoà thượng Thích Thanh Từ với những bản dịch Việt ngữ vô cùng quý giá như Thiền sư Trung Hoa I-III, Bích nham lục, Thiền sư Việt Nam. Hầu hết tất cả những gì nói về Thiền Trung Quốc và Việt Nam chúng tôi đều nương vào lời dịch của Hoà Thượng để trình bày. Nếu nhắc lại trong từng đoạn thì e rằng giảm bớt phần nào công lao của Sư. Nhân đây một lời chân thành cảm ơn Hoà thượng và các vị trong ban phiên dịch.

Chúng tôi cũng thành thật cảm ơn tất cả những vị khác đã phiên dịch những tác phẩm cơ bản của Phật giáo ra Việt ngữ và nói chung là tất cả các bậc thầy đã dịch những bản kinh, luận ra những ngôn ngữ mà chúng tôi có thể tiếp thu được để thực hiện quyển sách này (xem thư mục tham khảo). Chúng tôi lúc nào cũng tâm niệm mình chỉ là những người góp nhặt những gì đã có, cố gắng phiên dịch trung thật như có thể, xắp xếp các từ mục thành một tập có đầu đuôi để chúng được ra mắt độc giả. Nhưng mỗi bản dịch – dù chính xác thế nào đi nữa – cũng là một bài luận giải trình bày mức độ »hiểu biết« và »không hiểu biết« của người soạn dịch. Vì thế chúng tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn cho nội dung và cách trình bày trong quyển sách này. Như Tôn giả A-nan-đà bắt đầu trong mỗi bài kinh »Như vầy tôi nghe« thì trong quyển sách này quý độc giả có thể đặt trước mỗi thuật ngữ được trình bày »Như vầy tôi hiểu« và »tôi« là chúng tôi, soạn và dịch giả. Chúng tôi biết rõ giới hạn khả năng của mình và những sơ sót trong quyển sách đầu tay này. Cầu mong quý đạo hữu bỏ qua và chúng tôi rất vui mừng nếu được quý vị đóng góp ý kiến, bổ sung những gì còn thiếu sót.

 

Trân trọng!
Ban biên tập Đạo Uyển


Vài nét về lần tái bản thứ nhất 2005

Từ lúc nhà xuất bản Thuận Hoá cho ra đến giờ (cuối năm 1999), chúng tôi đã hiệu đính và bổ sung nhiều, cụ thể là:

1. Nhiều mục từ Hán Việt đã được đưa vào. Những từ này phần lớn xuất phát từ quyển Đông Á Hán Anh Phật Học Từ Điển 東 亞 漢 英 佛 學 辭 典 (Digital Dictionary of Buddhism) của Giáo sư Charles Muller: http://www.acmuller.net/

2. Văn bản được trình bày hoàn toàn với Font chữ thuần tuý mã thống nhất (Unicode 16-bit), giữ được vẻ nhất quán.

3. Phụ lục ngoại ngữ đã được bổ sung triệt để. Không phải tất cả những mục từ Hán Việt trong Phụ lục ngoại ngữ đều được đưa vào phần chính văn. Nhưng chúng tôi hi vọng một ngày gần đây sẽ hoàn thành công việc này.

4. Thêm vào hiệu đính những lỗi có trong phiên bản thứ hai (lưu hành nội bộ). Ứng dụng mã thống nhất (Unicode) để trình bày chữ Phạn.

 

Cẩn chí
Ban biên tập Đạo Uyển
Xuân 2005


Cách sử dụng từ điển này (dành cho bản in)


Từ điển này được chia làm hai phần, phần Việt ngữ và phần phụ bản ngoại ngữ, bao gồm các tiếng Phạn (sanskrit), Pā-li, Hoa, Nhật Bản, Tây Tạng, Anh. Chúng tôi đưa vào phần phụ lục ngoại ngữ vì muốn giúp người nghiên cứu Phật pháp bằng ngoại ngữ có thể nhân đây mà tìm ngược lại được tiếng Việt những thuật ngữ quan trọng, phổ biến. Mặt khác Phật tử tại Việt Nam có cơ hội làm quen với những ngôn ngữ mà hầu hết các kinh luận Phật giáo được ghi chép lại, đó là Pā-li và Phạn. Sau những chữ đầu in đen đậm, chúng tôi tìm cách giảng nghĩa những danh từ này với khả năng và tài liệu thu thập được và trong phần này, những danh từ được giảng nghĩa ở chỗ khác trong sách đều mang một mũi tên phía trước, ví dụ như → Phật giáo. Những mũi tên này sẽ hướng dẫn độc giả qua suốt quyển sách này và chúng tôi hi vọng rằng, chúng sẽ giúp độc giả hiểu rõ hơn cấu trúc và nội dung được trình bày.

Những danh từ được dịch âm Hán Việt được viết tiếp nối với nhau bằng gạch ngang, ví dụ như Thích-ca (śākya), Ba-la-mật-đa… Nhưng riêng những chữ dài như Prajñāpāramitā thì được viết là Bát-nhã Ba-la-mật-đa, chứ không liền nhau Bát-nhã-ba-la-mật-đa, Bồ-đề Đạt-ma (bodhidharma), thay vì Bồ-đề-đạt-ma để chúng dễ được đánh vần và cũng giữ được phần nào thẩm mĩ. Nếu đã có những danh từ dịch nghĩa thích hợp và phổ biến thì chúng tôi mạnh dạn sử dụng vì phần lớn chúng là những danh từ có một nghĩa nhất định, dễ nhớ, ví dụ như Đại Nhật Như Lai cho danh từ Phạn là (Mahā-)Vairocana-Tathāgata. Còn danh từ dịch theo âm Hán Việt là Tì-lô-giá-na Như Lai thì chúng tôi thấy chẳng còn chút nào giống âm của nguyên ngữ. Giới hạn của danh từ dịch nghĩa là những từ phiên âm thông dụng, ví dụ như Trần-na (dignāga) thay vì dịch nghĩa là Vực Long, A-di-đà Phật thay vì Vô Lượng Quang hoặc Vô Lượng Thọ Phật. Nói chung, chúng tôi dựa theo cách sử dụng của các vị tiền bối trong những tác phẩm phổ biến. Cũng có nhiều danh từ chúng tôi không dịch vì không tìm ra danh từ tương ưng trong Hán Việt. Trong trường hợp này chúng tôi để nguyên dạng ngoại ngữ rồi tìm cách giảng nghĩa. Nếu tìm được dạng phiên dịch (dịch nghĩa) thích hợp của các danh từ này thì chúng tôi bổ sung thêm sau. Riêng tên của chư vị Ma-ha Tất-đạt (mahāsiddha) – cũng được dịch nghĩa là Đại thành tựu giả – được viết theo lối cách âm, sửa đổi chút ít để có thể đọc được theo âm Việt, không theo Hán âm vì tên của các vị không được phổ biến rộng và vì vậy, chúng tôi không rõ cách dịch theo âm Hán Việt như thế nào. Một vài tên đã được dịch ra âm Hán Việt thì hoàn toàn không giống nguyên âm. Sau mỗi tên phiên âm chúng tôi đều để trong ngoặc nguyên ngữ Phạn để quý độc giả có thể tự nghiên cứu.

Cách phát âm ngoại ngữ

Phạn, Pā-li và Tạng ngữ

Phạn ngữ được trình bày ở đây dưới dạng phổ biến nhất trong kinh sách Phật giáo nước ngoài. Sau đây là một vài quy tắc phát âm cơ bản, giản lược:

c

như ch của Anh ngữ. Cakra được đọc như chakra

ṃ, ṅ

phát âm gần như -ng, nhưng kéo dài một chút, ví dụ như saṃ-sā-ra như sang-sā-ra, kéo dài ng- với giọng mũi.

phát âm như ri, đọc nhanh, phớt qua chữ y. Rajāgṛha đọc như ra-jā-gri-ha. Ṛddhi đọc như riddhi.

ś, ṣ

như sh trong Anh ngữ, ś được phát âm mạnh hơn một chút, ś như (t)sh như (d)sh. Śikṣāsamuccaya được đọc như shik-sh-sa-much-cha-ya.

ū

đọc như u Việt ngữ kéo dài

ā

đọc như a Việt ngữ kéo dài

o

đọc như ô Việt ngữ kéo dài

e

đọc như ê Việt ngữ kéo dài

ī

đọc như y Việt ngữ kéo dài

Những dấu chấm dưới các chữ sau có thể bỏ qua như ḍ, ḷ, ṭ, ṇ. Dh được đọc như d với chữ h thật nhanh phía sau như dhātu.

Trong độc bản, Tạng ngữ được trình bày dưới dạng Hán Việt hoặc cách dịch âm Việt hoá, có thể đọc gần như tiếng Việt;

Hoa ngữ

Trong từ điển này, Hoa ngữ được viết dưới dạng âm Bắc Kinh, theo lối Bính âm (拼 音; pīnyīn) được chính quyền Trung Quốc đề ra năm 1953, không theo hệ thống La-tinh hoá cũ của T. Wade-Giles. Ví dụ như Triệu Châu Tòng Thẩm 趙 州 從 諗 là zhàozhōu cóngshĕn, thay vì chao-chou ts'ung-shen.

Nhật ngữ

s

như x Việt ngữ

z

như s Việt ngữ

ch

như sh Anh ngữ

tsu

không phát âm u; Katsu (Hát, 喝) đọc Kats'

fu

như ph Việt ngữ, chỉ đọc phớt nhẹ chữ u.

y

như chữ y Anh ngữ; Tōkyō (Đông Kinh, 東 京) đọc Tōk-yō, không đọc Tō-ki-yō

j

như ch Anh ngữ (change)

ei

như chữ ê Việt ngữ kéo dài

ū

đọc như u Việt ngữ kéo dài

ō

đọc như ô Việt ngữ kéo dài

 

Viết tắt:

  • S, s: Phạn ngữ (sanskrit);
  • P, p: Pā-li (pāli);
  • C, c: Hoa ngữ (chinese);
  • E, e: Anh ngữ (english);
  • G, g: Đức ngữ (german);
  • J, j: Nhật ngữ (japanese);
  • K, k: Hàn ngữ (korean);
  • L, l: La-tinh (latinum);
  • T, t: Tạng ngữ (tibetan);
  • tk.: Thế kỉ.

Vài nét về kĩ thuật thực hiện

Từ điển này được hoàn tất trên Microsoft WindowsXP Platform với chương trình Word2003; Hán tự được viết bằng chương trình TwinBridge (Song Kiều, 雙 橋) 6.0.


CẢM TẠ

Tác phẩm về đạo Phật nào được ấn hành, ra mắt độc giả đó đây đều đã phải được biên soạn dưới những điều kiện, môi trường thuận tiện, đều phải »có duyên«. Soạn giả chân thành cảm tạ những đạo hữu, những bậc thầy đã tạo những thuận duyên, thuận cảnh trong quá trình hình thành quyển từ điển này:
  • K. Kauppert (CHLB Đức) về sự hỗ trợ về mặt kĩ thuật trong nhiều năm vừa qua;
  • Đại đức Thích Thông Thiền (Thiền viện Chơn Không, Bà Rịa-Vũng Tàu) về việc khuyến khích thực hiện quyển sách này, đọc và sửa bản thảo;
  • Đại đức Thích Thiện Thuận và chư tăng tại Viện Chuyên Tu (Đại Tòng Lâm, Bà Rịa-Vũng Tàu) về việc khuyến khích soạn giả học chữ Hán, hết lòng chỉ dạy cũng như những »Mặc tích« trong sách này;
  • Thầy Định Huệ (TP Hồ Chí Minh) về việc cung cấp các bản Hán văn cũng như đọc và sửa bản thảo;
  • Gia đình chị Lợi (Đại Tòng Lâm, Bà Rịa-Vũng Tàu) về việc thu thập tài liệu, kinh sách và Sư cô Tịnh Nhẫn (Đại Tòng Lâm, Bà Rịa-Vũng Tàu) về việc đọc và sửa bản thảo;
  • Thiền viện Viên Chiếu, đặc biệt là hai sư cô Thuần Bạch và Thuần Chánh.
  • Chị Bảy Haas, chị Trần Thị Thu Thuỷ (USA) về việc tài trợ tư liệu, kinh sách ngoại ngữ;
… Và rất nhiều người khác mà soạn giả không thể liệt kê tên ở đây được, những người đã hết lòng tán dương, ủng hộ công trình thực hiện này.

Ban biên dịch Đạo Uyển

  • Chân Nguyên, Nguyễn Tường Bách, Thích Nhuận Châu.
  • Kĩ thuật vi tính: Chân Nguyên, Nguyễn Tấn Việt, Nguyễn Trần Quý.
  • Tổng biên tập: Chân Nguyên.





Nếu muốn duyệt qua từng vần trong từ điển,
xin nhập vào ô dưới đây vần tương ứng. Ví dụ: A, B, C...

Để giới hạn kết quả tìm kiếm chính xác hơn, quý vị có thể nhập 2 hoặc 3 chữ cái đầu vần. Ví dụ, để tìm những chữ như thiền, thiện... quý vị nên nhập thi thay vì t... sẽ cho một kết quả gần với yêu cầu của quý vị hơn.